Tình hình kinh tế - xã hội tháng 12, quý IV và năm 2025 tỉnh Lâm Đồng
Năm 2025, kinh tế thế giới được các tổ chức quốc tế lớn như IMF, EU và Fitch Ratings nhận định có triển vọng khả quan hơn với mức dự báo tăng trưởng được điều chỉnh tăng nhẹ so với các kỳ đánh giá trước, dao động trong khoảng từ 2,5% đến 3,2%, trong khi OECD giữ nguyên dự báo ở mức 3,2%; thương mại hàng hóa toàn cầu dự kiến tăng trưởng ổn định ở mức 2,4% theo dự báo của WTO và lạm phát toàn cầu tiếp tục xu hướng giảm trên diện rộng xuống mức 4,2%. Trong bối cảnh đó, khu vực Đông Nam Á chứng kiến sự phân hóa về tốc độ phục hồi, song Việt Nam được các tổ chức quốc tế đánh giá là quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao nhất khu vực, với các mức dự báo cụ thể: ADB lạc quan nhất ở mức 7,4%, tiếp đến là WB 6,6%, IMF 6,5% và OECD 6,2%. Động lực tăng trưởng chủ yếu của Việt Nam trong năm 2025 được xác định dựa trên đà phục hồi mạnh mẽ của kim ngạch xuất khẩu và ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; kết hợp với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) duy trì đà tăng trưởng tích cực, mặc dù nền kinh tế vẫn đối mặt với thách thức từ rủi ro thiên tai và những bất định trong chính sách thương mại toàn cầu.
Hòa cùng xu thế chung của cả nước, tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng năm 2025 tiếp tục phục hồi và phát triển theo hướng ổn định, tích cực trong bối cảnh còn nhiều khó khăn, thách thức từ kinh tế thế giới và trong nước. Hoạt động sản xuất, kinh doanh trên hầu hết các lĩnh vực duy trì đà tăng trưởng; thị trường hàng hóa, dịch vụ ổn định; đầu tư xã hội và du lịch tiếp tục được thúc đẩy; an sinh xã hội được bảo đảm. Sự đóng góp đồng đều của cả ba khu vực kinh tế, đặc biệt là khu vực dịch vụ, đã tạo nền tảng vững chắc cho tăng trưởng chung của nền kinh tế địa phương trong năm.
I. Tăng trưởng kinh tế
Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) năm 2025, tăng 6,42% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 5,10%, đóng góp 1,68 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,54%, đóng góp 1,21 điểm phần trăm (riêng công nghiệp, tăng 4,80%, đóng góp 0,75 điểm phần trăm); khu vực dịch vụ tăng 8,28%, đóng góp 3,33 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 4%, đóng góp 0,20 điểm phần trăm.
Tốc độ tăng trưởng GRDP năm 2025 so với cùng kỳ

Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 5,1% (cùng kỳ tăng 5,02%), đóng góp 1,68 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung; trong đó nông nghiệp tăng 5,22% (cùng kỳ tăng 5,13%), đóng góp 1,5 điểm phần trăm; thủy sản tăng 4,47% (cùng kỳ tăng 3,97%), đóng góp 0,16 điểm phần trăm; lâm nghiệp tăng 3,22%, đóng góp 0,02 điểm phần trăm.
Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,54%, đóng góp 1,21 điểm phần trăm; trong đó xây dựng tăng 7,35%, đóng góp 0,46 điểm phần trăm; công nghiệp tăng 4,8%, đóng góp 0,75 điểm phần trăm.
Khu vực dịch vụ đạt mức tăng 8,28% cao nhất trong 3 năm gần đây (năm 2023: 8,06%; năm 2024: 6,97%), đóng góp 3,33 điểm phần trăm, với nhiều ngành tăng trưởng mạnh như: bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 10,55%, đóng góp 0,79 điểm phần trăm; vận tải kho bãi tăng 15,07%, đóng góp 0,43 điểm phần trăm; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 9,79%, đóng góp 0,66 điểm phần trăm; dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 11,38%, đóng góp 0,04 điểm phần trăm; nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 10,52%, đóng góp 0,16 điểm phần trăm. Kết quả này phản ánh hiệu quả của các chính sách xúc tiến, kích cầu, đặc biệt trong lĩnh vực du lịch và dịch vụ, sau khi bộ máy và địa giới hành chính được sắp xếp, vận hành ổn định.
Cơ cấu kinh tế: Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nền kinh tế của tỉnh chiếm 38,59%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 20,87%; khu vực dịch vụ chiếm 35,83%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm, chiếm 4,71% (cơ cấu tương ứng của năm 2024 là 38,06%; 21,52%; 35,59%; 4,83%). Nhìn chung, nền kinh tế của tỉnh ngành nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao do từ năm 2024 trở lại đây mặt hàng nông sản chủ lực đang ở mức giá rất cao lên người dân mạnh dạn đầu tư, chăm sóc hơn; song khu vực dịch vụ đang dần có sự chuyển biến tích cực hơn.
Cơ cấu kinh tế trong GRDP (ĐVT: %)

Về quy mô GRDP bình quân đầu người năm 2025 ước đạt 105,24 triệu đồng/người, tăng 12,7% (tăng 11,86 triệu đồng/người), tương đương 4.047,6 USD/người.
Năng suất lao động của toàn nền kinh tế theo giá hiện hành năm 2025 ước đạt 186,02 triệu đồng/lao động, tăng 13 triệu đồng/người so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng năng suất lao động luôn được cải thiện rõ rệt và ổn định qua từng năm (từ mức 109,1 năm 2020 lên 186,0 năm 2025).
II. Nông, lâm nghiệp và thủy sản
Năm 2025, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh chịu ảnh hưởng của thiên tai, mưa lớn và lũ quét xảy ra trong hai tháng cuối năm, gây thiệt hại về cây trồng, vật nuôi. Tuy nhiên, tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản trong năm vẫn duy trì và phát triển ổn định. Diện tích các loại cây trồng hàng năm tăng nhẹ so với năm trước. Chăn nuôi phát triển theo hướng thích ứng thị trường, người chăn nuôi chủ động chuyển sang nuôi gia cầm nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và nâng cao hiệu quả kinh tế. Tình hình dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi, nhất là bệnh Dịch tả lợn Châu Phi được kiểm soát hiệu quả, giúp người dân yên tâm đầu tư. Sản lượng khai thác thuỷ sản biển ổn định. Công tác phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã và Chương trình OCOP được chú trọng; nhiều doanh nghiệp, chủ thể sản xuất được hỗ trợ quảng bá, giới thiệu sản phẩm nông sản chủ lực, sản phẩm OCOP tại các hội nghị, triển lãm trong cả nước, góp phần nâng cao giá trị và thương hiệu nông nghiệp của tỉnh.
1. Trồng trọt
1.1. Cây hàng năm
Diện tích gieo trồng cây hàng năm sơ bộ năm 2025 ước đạt 425.790,4 ha, tăng 1,43% so với năm trước và tăng ở hầu hết các loại cây trồng (chỉ có cây ngô diện tích gieo trồng giảm 5,2% và cây đậu tương diện tích gieo trồng giảm 1,6% so với năm trước). Trong đó: Diện tích cây lương thực có hạt sơ bộ đạt 223.293,7 ha, giảm 0,43%; sản lượng lương thực ước đạt 1.392.779,1 tấn, giảm 0,9% so với năm trước (cây lúa diện tích sơ bộ đạt 167.429,8 ha, tăng 1,28%; sản lượng ước đạt 1.006.108 tấn, giảm 0,78%. Cây ngô diện tích sơ bộ đạt 55.863,9 ha, giảm 5,2%; sản lượng ước đạt 386.671,1 tấn, giảm 1,21%). Cụ thể:
- Vụ Đông xuân diện tích gieo trồng đạt 105.612 ha, tăng 1,5% so với vụ Đông Xuân năm trước, trong đó: Cây lương thực có hạt đạt 61.323,3 ha, tăng 2% (riêng cây lúa diện tích gieo trồng đạt 55.314 ha, tăng 2,54%; sản lượng đạt 365.836,8 tấn, tăng 2,94%; năng suất đạt 66,1 tạ/ha, tăng 0,3 tạ/ha). Rau các loại diện tích gieo trồng đạt 26.727,6 ha, bằng so với cùng vụ năm trước; sản lượng đạt 872.364,2 tấn; tăng 1,1%; năng suất đạt 326,4 tạ/ha, tăng 3,5 tạ/ha.
- Vụ Hè thu diện tích gieo trồng đạt 144.100,5 ha, tăng 0,04% so với vụ hè thu năm trước, trong đó: Cây lương thực có hạt đạt 79.012,4 ha, giảm 0,34% (riêng cây lúa diện tích gieo trồng đạt 48.232 ha, tăng 0,23%; sản lượng đạt 262.651,1 tấn, giảm 8,67%; năng suất đạt 54,5 tạ/ha, giảm 5,3 tạ/ha). Rau các loại diện tích gieo trồng đạt 32.767,3 ha, tăng 0,66%; sản lượng đạt 989.956,1 tấn; giảm 0,86%; năng suất đạt 302,1 tạ/ha, giảm 4,6 tạ/ha.
- Vụ Mùa diện tích gieo trồng đạt 176.077,9 ha, tăng 1,4% so với vụ mùa năm trước, trong đó: Cây lương thực có hạt đạt 85.544,9 ha, tăng 0,83% (riêng cây lúa diện tích gieo trồng đạt 63.883,8 ha, tăng 0,99%; sản lượng đạt 377.620,1 tấn, tăng 1,76%; năng suất đạt 59,1 tạ/ha, tăng 0,4 tạ/ha). Rau các loại diện tích gieo trồng đạt 31.167 ha, tăng 2,9%; sản lượng đạt 961.051,6 tấn; tăng 3,5%; năng suất đạt 308,4 tạ/ha.
Diện tích gieo trồng cây hàng năm qua các năm

1.2. Cây lâu năm
Tình hình sản xuất cây lâu năm trên địa bàn tỉnh duy trì phát triển ổn định, tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng trong cơ cấu nền nông nghiệp của tỉnh. Việc chuyển đổi cây trồng theo hướng nâng cao giá trị và chất lượng sản phẩm, phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng và thị trường đang được triển khai hợp lý, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân và thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng bền vững và hiệu quả. Tổng diện tích trồng cây lâu năm sơ bộ đạt 622.873,0 ha, tăng 1,24% so với năm trước (cây ăn quả các loại diện tích đạt 107.152,3 ha, tăng 1,83%). Cụ thể một số cây trồng chính như sau:
- Cây chè: Diện tích hiện có sơ bộ đạt 9.329,3 ha, giảm 5,48%; diện tích cho sản phẩm ước đạt 8.938,3 ha, giảm 1,39%; sản lượng ước đạt 116.699,1 tấn, giảm 0,49%; năng suất ước đạt 130,6 tạ/ha, tăng 1,2 tạ/ha so với năm trước. Diện tích chè giảm do nhiều hộ chuyển đổi một số diện tích chè già cỗi, sản xuất theo truyền thống trước đây hiệu quả kinh tế thấp sang cây cà phê, sầu riêng, bơ, chanh dây,...;
- Cây cà phê: Diện tích hiện có sơ bộ đạt 328.650 ha, tăng 1,03%; diện tích cho sản phẩm ước đạt 312.859,2 ha, tăng 1,71%; sản lượng ước đạt 1.028.393 tấn, tăng 5,57%; năng suất ước đạt 32,9 tạ/ha, tăng 1,2 tạ/ha so với năm trước;
- Cây cao su: Diện tích hiện có sơ bộ đạt 75.381 ha, tăng 2,6%; diện tích cho sản phẩm ước đạt 63.718,6 ha, tăng 3,05%; sản lượng ước đạt 112.026 tấn, tăng 3,95%; năng suất ước đạt 17,6 tạ/ha, tăng 0,2 tạ/ha so với năm trước. Cao su chủ yếu tập trung ở khu vực Bình Thuận và Đắk Nông; diện tích cao su tiếp tục được duy trì ổn định và năng suất khai thác tại các vùng chuyên canh ngày càng được cải thiện;
- Cây hồ tiêu: Diện tích hiện có sơ bộ đạt 37.193 ha, tăng 0,02%; diện tích cho sản phẩm ước đạt 34.613,8 ha, tăng 3,61%; sản lượng ước đạt 89.865 tấn, tăng 7,28%; năng suất ước đạt 26 tạ/ha, tăng 0,9 tạ/ha so với năm trước. Trong năm, giá hồ tiêu duy trì ở mức cao và ổn định, người dân mở rộng diện tích cũng như tăng cường thâm canh để nâng cao năng suất vườn cây;
- Cây điều: Diện tích hiện có sơ bộ đạt 50.215 ha, tăng 1.49%; diện tích cho sản phẩm ước đạt 47.857,9 ha, tăng 0,64%; sản lượng ước đạt 39.970 tấn, tăng 2,31%; năng suất ước đạt 8,4 tạ/ha, tăng 0,1 tạ/ha so với năm trước;
- Cây dâu tằm: Trong thời gian gần đây việc chuyển đổi giống cho năng suất cao, ít sâu bệnh như VA-201, S7-CB, TPL 03 và TPL 05 phù hợp điều kiện thổ nhưỡng, năng suất cao và khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, bên cạnh đó giá kén tằm ổn định (180.000 đ - 200.000 đ/kg) nên người dân tích cực đầu tư chăm bón, mở rộng diện tích. Diện tích hiện có sơ bộ đạt 11.320,4 ha, tăng 4,93%; diện tích cho sản phẩm ước đạt 11.048,6 ha, tăng 6,99%; sản lượng ước đạt 289.405 tấn, tăng 5,6%; năng suất ước đạt 261,9 tạ/ha, giảm 3,5 tạ/ha so với năm trước;
- Cây sầu riêng: Diện tích hiện có sơ bộ đạt 44.283,5 ha, tăng 4,34%; diện tích cho sản phẩm ước đạt 23.070,2 ha, tăng 11,54%; sản lượng ước đạt 290.266 tấn, tăng 11,34%; năng suất ước đạt 125,8 tạ/ha, giảm 0,2 tạ/ha so với năm trước. Trong thời gian tới, diện tích sầu riêng tiếp tục có xu hướng tăng do hiệu quả kinh tế vượt trội so với nhiều loại cây trồng khác;
- Cây thanh long: Trong năm 2025, giá bán thanh long tương đối ổn định, dù vẫn xuất hiện những biến động ngắn hạn theo mùa vụ (một số thời điểm, giá tăng cao nhờ nhu cầu xuất khẩu khả quan, nhất là các thị trường truyền thống như Trung Quốc, Hàn Quốc và một số nước Đông Nam Á), mức giá thuận lợi này đã khuyến khích nhiều hộ tập trung chong đèn trái vụ. Diện tích hiện có sơ bộ đạt 26.126 ha, tăng 0,56%; diện tích cho sản phẩm ước đạt 26.108,7 ha, tăng 1,06%; sản lượng ước đạt 577.731 tấn, tăng 2,92%; năng suất ước đạt 221,3 tạ/ha, tăng 4 tạ/ha so với năm trước.
1.3. Tình hình thủy lợi phục vụ sản xuất
Toàn tỉnh hiện có 966 công trình thủy lợi, trong đó: có 536 hồ chứa; 255 đập dâng; 13 cống dâng; 51 trạm bơm; 91 đập tạm; 20 kênh tiêu cùng với khoảng 3.632 km kênh mương (đã kiên cố hóa được khoảng 1.940 km, đạt 53,4%) và hệ thống đê biển, kè biển, kè sông. Trong năm 2025, diện tích canh tác được tưới đạt trên 73,45% diện tích cần tưới, trong đó: diện tích được tưới từ công trình thủy lợi tập trung đạt khoảng 150.128 ha; diện tích tưới tiên tiến, tiết kiệm nước đạt khoảng 97.202 ha.
1.4. Tình hình dịch bệnh trên cây trồng
Trong tháng 12/2025, tình hình sâu bệnh trên các loại cây trồng cơ bản được kiểm soát tốt; một số loại sâu bệnh hại trên cây trồng, cụ thể:
- Cây lúa: Sâu đục thân gây hại 433 ha; bệnh đạo ôn lá gây hại 980 ha; chuột gây hại 310 ha; rầy nâu gây hại 171 ha (so với tháng trước, sâu đục thân gây hại tăng 39 ha; bệnh đạo ôn lá gây hại tăng 465 ha; chuột gây hại tăng 60 ha; rầy nâu gây hại tăng 20 ha);
- Cây sầu riêng: Bệnh xì mủ, thối rễ gây hại 2.252,8 ha (tăng 16,8 ha so với tháng trước) tại các xã Đạ Tẻh, Đạ Tẻh 3, Đạ Huoai, Đạ Huoai 2, Quảng Sơn, Quảng Khê, phường Đông Gia Nghĩa, phường Nam Gia Nghĩa;
- Cây cà phê: Mọt đục cành gây hại 1.366 ha (tăng 36 ha so với tháng trước) tại các xã Bảo Lâm 1,2,3,4,5 và rải rác ở các vùng trồng cà phê khác; bọ xít muỗi gây hại 2.047,2 ha cà phê chè (tăng 26,8 ha so với tháng trước) tại xã Lạc Dương, phường Xuân Trường - Đà Lạt; Bệnh chết khô ngọn gây hại 30 ha tại Bảo Lâm 1;
- Cây điều: Bọ xít muỗi gây hại 3.205,4 ha (tăng 319,1 ha so với tháng trước); bệnh thán thư gây hại 2.876 ha (tăng ha so với tháng trước) tại các xã Cát Tiên, Đạ Tẻh, Đạ Tẻh 3, Đạ Huoai, Đạ Huoai 2, Đam Rông 1,2,3,4, Tánh Linh, Suối Kiết, Tân Minh, Nam Thành;
- Cây dâu tằm: Bệnh tuyến trùng gây hại 316 ha (tăng 02 ha so với tháng trước) tại xã Đạ Tẻh 3;
- Cây thanh long: Bệnh đốm nâu gây hại 4.069 ha (tăng 920 ha so với tháng trước); ốc sên gây hại 916 ha (tăng 06 ha so với tháng trước) tại các xã Hàm Thạnh, Hàm Kiệm, Hàm Thuận Nam, Tân Thành, Tiến Thành, Tân Lập, Tân Hải, Tuyên Quang, Bình Thuận, Hàm Thuận Bắc, Hàm Liêm, Hàm Thuận, Bắc Bình, Phan Rí Cửa, Liên Hương.
Những vùng bị dịch bệnh trên cây trồng được cơ quan chức năng kịp thời thực hiện các biện pháp kiểm soát, không để thành dịch gây thiệt hại lớn cho sản xuất.
- Quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói:
+ Mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói xuất khẩu: Trong năm 2025, toàn tỉnh đã được cấp 952 mã số vùng trồng xuất khẩu với tổng diện tích 39.182 ha và 341 cơ sở đóng gói với tổng diện tích 533.659 m2; số hồ sơ gửi và đang chờ phê duyệt có 75 hồ sơ đề nghị cấp mã vùng trồng với quy mô 659,43 ha và 69 hồ sơ đề nghị cấp mã cơ sở đóng gói với tổng diện tích nhà xưởng 144.527,85 m2.
+ Vùng sản xuất hạt giống rau xuất khẩu sang thị trường EU: Có 12 mã số vùng trồng với sản lượng trên 7.000 kg hạt giống ớt, cà chua/vụ. Bên cạnh đó, có 05 mã vùng trồng cây giống, ngọn giống của Công ty TNHH Đà Lạt Hasfarm đăng ký xuất khẩu quy mô gần 300.000 ngọn giống, cây giống/vụ.
+ Mã số vùng trồng trong lĩnh vực trồng trọt: Trong năm 2025, toàn tỉnh đã được cấp 271 mã số vùng trồng trong lĩnh vực trồng trọt với tổng diện tích 2.641,58 ha.
1.6. Chương trình OCOP
Tính đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn tỉnh có 926 sản phẩm đạt tiêu chuẩn OCOP đã được chứng nhận, trong đó có: 75 sản phẩm 4 sao và 844 sản phẩm 3 sao; trong năm có 07 sản phẩm OCOP tham gia đánh giá phân hạng cấp quốc gia 5 sao với 529 chủ thể tham gia. Kết quả dự kiến có 07 sản phẩm đề xuất đánh giá, phân hạng cấp Quốc gia đạt 5 sao (gồm 02 sản phẩm đánh giá, phân hạng lại và 04 sản phẩm nâng hạng lên 5 sao); 05 sản phẩm đạt hạng 4 sao (01 sản phẩm đánh giá, phân hạng lại và 04 sản phẩm nâng hạng từ 3 sao lên 4 sao); 09 sản phẩm đạt hạng 3 sao.
2. Chăn nuôi
Trong năm 2025, ngành chăn nuôi trên địa bàn tỉnh phát triển thuận lợi; mặc dù giá thức ăn, con giống gia súc ở mức cao, dịch bệnh tiêu chảy trên đàn bò sữa và bệnh Dịch tả lợn Châu Phi đã xảy ra tại một số nơi trên địa bàn tỉnh nhưng nhờ công tác kiểm dịch và quản lý tốt tại các trang trại (đặc biệt là trại chăn nuôi gia công) nên nhìn chung tổng đàn các loại vật nuôi vẫn giữ được mức tăng so với năm trước.
Số lượng đàn gia súc, gia cầm qua các năm
(ĐVT: 1.000 con)

- Đàn trâu: Tổng đàn hiện có 27,3 nghìn con trâu, tăng 1,21% so với cùng thời điểm năm trước. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng quý IV/2025 ước đạt 406 tấn, tăng 1,95% so với cùng kỳ; lũy kế cả năm 2025 ước đạt 1.628,3 tấn, tăng 1,83%.
- Đàn bò: Tổng đàn hiện có 318,7 nghìn con bò, tăng 1,67% so với cùng thời điểm năm trước (trong đó đàn bò sữa 28,9 nghìn con, tăng 1,51%). Sản lượng thịt hơi xuất chuồng quý IV/2025 ước đạt 4.399,5 tấn, tăng 2,37% so với cùng kỳ; lũy kế cả năm 2025 ước đạt 17.506,3 tấn, tăng 2,12%. Sản lượng sữa bò quý IV/2025 ước đạt 23.950 tấn, giảm 0,8% so với cùng kỳ; lũy kế cả năm 2025 ước đạt 95.031,7 tấn, tăng 0,8%.
- Đàn lợn: Trong năm 2025 có thêm sự đóng góp của Chi nhánh Công ty Cổ phần Thái Việt Corporation với quy mô hơn 35.000 con lợn và Công ty Thái Thịnh Tây Nguyên với quy mô hơn 8.000 con lợn nên tổng đàn cũng như sản lượng thịt hơn tăng cao so với năm trước. Tổng đàn lợn hiện có 1.532,3 nghìn con, tăng 4,06% so với cùng thời điểm năm trước (lợn không bao gồm lợn con chưa tách mẹ có 1.227,8 nghìn con, tăng 7,48%); sản lượng thịt hơi xuất chuồng quý IV/2025 ước đạt 85.789,2 tấn, tăng 10,26% so với cùng kỳ; lũy kế cả năm 2025 ước đạt 240.000,6 tấn, tăng 6,59%.
- Đàn gia cầm: Tổng đàn hiện có 22.395,6 nghìn con, tăng 8,05% so với cùng thời điểm năm trước (trong đó gà các loại 16.029,8 nghìn con, chiếm 71,58% trong tổng đàn gia cầm, tăng 10,13%); sản lượng thịt hơi xuất chuồng quý IV/2025 ước đạt 25.094,5 tấn, tăng 10,95% so với cùng kỳ; lũy kế cả năm 2025 ước đạt 77.340,8 tấn, tăng 10,75%; sản lượng trứng quý IV/2025 ước đạt 312,3 triệu quả, tăng 2,6%, sản lượng trứng cả năm ước đạt 1.249,1 triệu quả, tăng 4,41%. Tổng đàn gia cầm và sản lượt thịt hơn tăng cao so với năm trước nhờ sự đóng góp của Công ty cổ phần MeBi Farm với quy mô trên 202 nghìn con gà đẻ trứng đã góp phần đáng kể vào việc nâng tổng đàn.
* Các hoạt động phòng, chống dịch bệnh
- Đối với bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Trong tháng, bệnh DTLCP phát sinh tại 13 hộ tại 09 thôn của 04 xã với tổng số lợn mắc bệnh bị tiêu hủy 575 con/28.942 kg. Lũy kế, tổng số lợn mắc bệnh DTLCP chết và bị tiêu hủy 2.480 con/131.692,2 kg. Đến nay, có 21/25 xã đã qua 21 ngày không phát sinh lợn mắc bệnh, 04/25 xã dịch bệnh chưa qua 21 ngày.
- Các dịch bệnh nguy hiểm khác (như bệnh heo tai xanh, lở mồm long móng, tụ huyết trùng, cúm gia cầm,...) không xảy ra.
3. Sản xuất lâm nghiệp
Trong năm 2025, công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng có nhiều chuyển biến tích cực; công tác trồng rừng, khôi phục và bảo vệ rừng thực hiện hiệu quả; diện tích rừng trồng mới và số cây xanh phân tán đều vượt kế hoạch; số vụ vi phạm Luật Lâm nghiệp giảm so với cùng kỳ năm 2024.
Trong tháng, thời tiết trên địa bàn tỉnh đã vào mùa khô, không phát sinh thêm diện tích rừng trồng mới tập trung, giảm 1.705,7 ha so với cùng kỳ năm trước; quý IV/2025 diện tích rừng trồng mới ước đạt 532 ha, giảm 54,22%; lũy kế năm 2025, diện tích rừng trồng mới ước đạt 5.030 ha, giảm 22,61% so với năm trước; trồng cây xanh phân tán ước đạt 17,42 triệu cây.
Trong tháng, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 50.605,2 m3, tăng 2,5% so với cùng kỳ năm trước; quý IV/2025 ước đạt 85.697 m3, giảm 4,43%; lũy kế cả năm 2025 ước đạt 368.390 m3, giảm 3,88%. Sản lượng củi khai thác trong tháng ước đạt 13.530 ste, giảm 1,6% so với cùng kỳ năm trước; quý IV/2025 ước đạt 42.326 ste, tăng 0,54%; lũy kế cả năm 2025 ước đạt 270.472 ste, tăng 6,95%.
Trong năm 2025, tổng số vụ vi phạm lâm luật là 390 vụ (179 vụ đã xác định được đối tượng vi phạm), trong đó có 173 vụ phá rừng trái pháp luật (80 vụ xác định được đối tượng vi phạm) với diện tích rừng thiệt hại 29,99 ha. So với cùng kỳ năm 2024, số vụ vi phạm giảm 365 vụ (số vụ phá rừng giảm 133 vụ), diện tích rừng bị thiệt hại do phá rừng giảm 24,6 ha.
4. Thuỷ sản
Trong năm 2025, sản lượng nuôi trồng giảm và khai thác đều tăng so với năm trước; hoạt động sản xuất giống, nhất là tôm giống được duy trì tốt nhờ kiểm soát chất lượng giống và hệ thống xét nghiệm chặt chẽ; đẩy mạnh công tác chống khai thác IUU.
- Nuôi trồng thủy sản: Sản lượng nuôi trồng trong tháng ước đạt 5.702,5 tấn, tăng 5,08% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 513,5 tấn, tăng 2,68%); quý IV/2025 ước đạt 5.420 tấn, giảm 0,33% (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 1.500 tấn, tăng 11,11%); lũy kế năm 2025 ước đạt 28.727 tấn, giảm 5,55% (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 5.100 tấn, tăng 3,13%).
- Khai thác thủy sản: Sản lượng khai thác thủy sản trong tháng ước đạt 20.865,3 tấn, tăng 8,74% so với cùng kỳ năm trước (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 19.901,1 tấn, tăng 6,18%); quý IV/2025 ước đạt 69.730 tấn, tăng 4,43% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế năm 2025, sản lượng khai thác đạt 252.530 tấn, tăng 4,89% (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 251.920 tấn, tăng 5,39%).
- Sản xuất giống thuỷ sản: Trong năm 2025 hoạt động sản xuất tôm giống gắn với công tác kiểm dịch, phân tích xét nghiệm mẫu được duy trì thường xuyên. Công tác quản lý chất lượng giống thuỷ sản, nhất là giống tôm bố mẹ luôn được tăng cường. Sản lượng tôm giống sản xuất trong tháng ước đạt 2,08 tỷ post, giảm 2,92% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế năm 2025 ước đạt 24,63 tỷ post, tăng 6,32% so với cùng kỳ năm trước.
Sản lượng thủy sản qua các năm

III. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển
1. Công nghiệp
Sản xuất công nghiệp năm 2025, duy trì đà phục hồi và tăng trưởng ổn định, cơ cấu ngành chuyển biến theo hướng tích cực, tiêu thụ sản phẩm cải thiện, tồn kho được kiểm soát, các khu công nghiệp tiếp tục thu hút đầu tư, tạo nền tảng thuận lợi cho phát triển công nghiệp trong thời gian tới.
1.1. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp
Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng ước tăng 2,14% so với tháng trước và tăng 12,25% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 9,32% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 18,20%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 9,64%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 13,02%.
Dự ước quý IV/2025 chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tăng 11,63% so với quý trước và tăng 10,66% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 10,09%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 13,61%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 9,05%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,71%.
Tính chung cả năm 2025, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tăng 4,79% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 10,46%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 9,5%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 2,01%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,9%.
Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) qua các năm

1.2. Một số sản phẩm chủ yếu
- Sản phẩm đá xây dựng: Trong tháng sản lượng sản xuất ước đạt 401.399 m3, giảm 1,17% so với tháng trước và tăng 18,69% so với cùng kỳ. Quý IV/2025 sản lượng sản xuất ước đạt 973.399 m3, tăng 6,29% so với cùng kỳ. Lũy kế năm 2025 sản lượng ước đạt 4.199.087 m3, tăng 10,21% so với cùng kỳ.
- Sản phẩm rau, quả qua chế biến, bảo quản: Trong tháng sản lượng ước đạt 3.167 tấn, tăng 10,44% so với tháng trước và tăng 13,52% so với cùng kỳ. Quý IV/2025 sản lượng sản xuất ước đạt 8.967 tấn, tăng 16,81% so với cùng kỳ. Lũy kế năm 2025 sản lượng ước đạt 37.063 tấn, tăng 17,22% so với cùng kỳ. Một số công ty đã đưa được sản phẩm vào siêu thị Mega mark và mở rộng quy mô sản xuất phục vụ đơn đặt hàng tăng mới xuất khẩu qua Malaisya, Indonexia.
- Các sản phẩm từ thuỷ sản được chế biến, bảo quản: Trong tháng ước đạt 2.622 tấn, tăng 4,46% so với tháng trước và tăng 37,59% so với cùng kỳ. Quý IV/2025 sản lượng sản xuất ước đạt 5.984 tấn, tăng 0,16% so với cùng kỳ. Lũy kế năm 2025 sản lượng ước đạt 22.584 tấn, tăng 0,03% so với cùng kỳ.
- Sản phẩm giày, dép: Trong tháng ước sản lượng đạt 862 nghìn đôi, tăng 35,20% so với tháng trước và tăng 66,83% so với cùng kỳ. Quý IV/2025 sản lượng sản xuất ước đạt 2.052 nghìn đôi, tăng 45,09% so với cùng kỳ. Lũy kế năm 2025 sản lượng ước đạt 6.548 nghìn đôi, tăng gấp 1,78 lần so với cùng kỳ là do doanh nghiệp nhận thêm đơn hàng vào các tháng cuối năm và năng lực tăng thêm ở Công ty TNHH Giày Nam Hà Việt Nam.
- Sản phẩm phân bón: Trong tháng ước sản lượng sản xuất đạt 9.172 tấn tăng 32,45% so với tháng trước và tăng 23,87% so với cùng kỳ. Quý IV/2025 sản lượng sản xuất ước đạt 29.412 tấn, tăng 35,02% so với cùng kỳ. Lũy kế năm 2025 sản lượng ước đạt 127.695 tấn, tăng 22,71% so với cùng kỳ, nguyên nhân do năm 2025 nhà máy hóa chất Đức Giang - Đăk Nông đi vào sản xuất.
- Sản phẩm Ôxit nhôm: Trong tháng ước đạt 176,8 nghìn tấn, tăng 1,48% so với tháng trước và tăng 44,80% so với cùng kỳ. Quý IV/2025 sản lượng sản xuất ước đạt 374,857 nghìn tấn, tăng 11,74% so với cùng kỳ. Lũy kế năm 2025 sản lượng ước đạt 1.584,396 nghìn tấn, tăng 4,39% so với cùng kỳ.
- Sản phẩm điện sản xuất: Trong tháng ước sản lượng đạt 4.552 triệu kwh, tăng 4,23% so với tháng trước và tăng 15,01% so với cùng kỳ. Quý IV/2025 sản lượng sản xuất ước đạt 9.015 triệu kwh tăng 7,51% so với cùng kỳ. Lũy kế năm 2025 sản lượng ước đạt 36.652 triệu kwh, tăng 2,04% so với cùng kỳ.
- Sản phẩm điện thương phẩm: Trong tháng ước sản lượng đạt 459 triệu kwh, tăng 2,7% so với tháng trước và tăng 3,31% so với cùng kỳ. Quý IV/2025 sản lượng sản xuất ước đạt 1.370 triệu kwh tăng 1,35% so với cùng kỳ. Lũy kế năm 2025 sản lượng ước đạt 5.483 triệu kwh, giảm 0,19% so với cùng kỳ. Các chương trình khuyến khích và ý thức tiết kiệm điện của người dân và doanh nghiệp được nâng cao cũng có thể góp phần làm chậm tốc độ tăng trưởng tiêu thụ điện; ngoài ra nhiều hộ dân, cơ sở kinh doanh, doanh nghiệp sử dụng một phần điện năng lượng mặt trời tự sản xuất, tự tiêu dùng.
1.3. Chỉ số sử dụng lao động
Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng 1,09% so với tháng trước và tăng 5,61% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: lao động ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,68%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,09%; trong khi ngành khai khoáng giảm 0,83% và ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 6%. Tính chung cả năm 2025, chỉ số sử dụng lao động tăng 3,69% so với năm trước, chủ yếu nhờ mức tăng của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,27% và ngành sản xuất, phân phối điện tăng 2,72%; ngành khai khoáng giảm mạnh 16,06%.
Theo loại hình doanh nghiệp, so với cùng kỳ năm trước chỉ số sử dụng lao động trong tháng của doanh nghiệp nhà nước tăng 0,26%, doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 7,70% và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 5,32%. Mức tăng cao của chỉ số sử dụng lao động trong tháng và xu hướng cao hơn bình quân năm 2025 cho thấy tín hiệu tích cực của thị trường lao động, phản ánh nhu cầu tuyển dụng tăng nhằm phục vụ sản xuất, kinh doanh cuối năm và triển vọng phát triển của các ngành công nghiệp trong thời gian tới.
1.4. Chỉ số tiêu thụ
Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tháng ước tăng 2,26% so với tháng trước và giảm 5,94% so với cùng kỳ; lũy kế năm 2025 chỉ số tiêu thụ tăng 7,68% so với cùng kỳ.
Các ngành có chỉ số tiêu thụ năm 2025 tăng như: sản xuất thực phẩm tăng 2,46%; dệt tăng 5,87%; sản xuất trang phục tăng 22,65%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 72,35%; chế biến gỗ tăng 15,60%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 18,75%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất 23,72%... Các ngành có chỉ số tiêu thụ giảm như: sản xuất đồ uống giảm 8,16%;...
Nhìn chung chỉ số tiêu thụ của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong năm 2025 tăng so với cùng kỳ là một tín hiệu tốt trong nền kinh tế nói chung và sản xuất công nghiệp nói riêng đang chịu ảnh hưởng của những biến động khó lường từ tình hình kinh tế thế giới.
1.5. Chỉ số tồn kho
Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tháng ước giảm 1,80% so với tháng trước và tăng 7,84% so với cùng kỳ, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng so cùng kỳ: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 16,60%; ngành dệt tăng 3,12%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 194,97%;… Ngược lại những ngành giảm như: sản xuất đồ uống giảm 92,95%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 14,05%.
1.6. Tình hình xu hướng sản xuất kinh doanh ngành chế biến, chế tạo
Theo kết quả khảo sát các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, trong quý IV/2025 so với quý III/2025, có 30,82% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh tốt hơn, 39,73% doanh nghiệp cho rằng ổn định và 29,45% doanh nghiệp nhận định khó khăn hơn. Các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh gồm: 53,70% doanh nghiệp cho rằng do nhu cầu thị trường trong nước thấp; 48,15% doanh nghiệp đánh giá tính cạnh tranh của hàng trong nước cao; 31,48% doanh nghiệp cho biết không tuyển dụng được lao động theo yêu cầu; 25,93% doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính; 24,07% doanh nghiệp phản ánh thiếu nguyên, nhiên vật liệu và 24,07% doanh nghiệp cho rằng nhu cầu thị trường quốc tế thấp. Ngoài ra, 16,67% doanh nghiệp cho rằng lãi suất vay vốn cao; 14,81% doanh nghiệp đánh giá tính cạnh tranh của hàng nhập khẩu cao; và 22,22% doanh nghiệp cho rằng chính sách pháp luật của Nhà nước cùng một số yếu tố khác cũng ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh.
Dự báo quý I/2026 so với quý IV/2025, có 75,34% doanh nghiệp nhận định tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và thuận lợi hơn, trong đó 28,08% doanh nghiệp dự báo tốt hơn và 47,26% doanh nghiệp cho rằng ổn định; 24,66% doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn. Chỉ số cân bằng của chỉ tiêu tình hình sản xuất kinh doanh đạt +3,42%, cho thấy môi trường kinh doanh có xu hướng cải thiện; doanh nghiệp kỳ vọng nền kinh tế tiếp tục ổn định, khó khăn của thị trường trong nước và quốc tế dần được tháo gỡ, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh trong thời gian tới.
Tỷ lệ các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo quý IV/2025 (%)

1.7. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp (KCN)
Các KCN trên địa bàn tỉnh đã thu hút được 06 dự án đầu tư (01 dự án FDI và 05 dự án đầu tư trong nước) với diện tích khoảng 22,23 ha, tổng vốn đầu tư đăng ký 452 tỷ đồng và 35 triệu USD. Lũy kế đến nay có 228 dự án (51 dự án FDI và 177 dự án trong nước) còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đầu tư là 43.326,61 tỷ đồng và 466,44 triệu USD và diện tích đất đăng ký 712,68 ha, tỷ lệ lấp đầy đạt 49,24%. Cụ thể:
- KCN Lộc Sơn thu hút được 55 dự án đầu tư (09 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 46 dự án đầu tư có vốn trong nước) với tổng vốn đăng ký 3.120,43 tỷ đồng và 48,63 triệu USD, diện tích đất đã cho thuê lại 115,77ha/132,62 ha đất công nghiệp cho thuê, tỷ lệ lấp đầy đạt 87,29%.
- KCN Phú Hội thu hút được 32 dự án đầu tư (11 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 21 dự án đầu tư có vốn trong nước) với tổng vốn đăng ký 2.384,12 tỷ đồng và 77,10 triệu USD, diện tích đất cho thuê lại 55,95 ha/74,58 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 75,02%.
- KCN Phan Thiết giai đoạn 1 thu hút được 39 dự án đầu tư (10 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 29 dự án đầu tư có vốn trong nước) với tổng vốn đầu tư đăng ký 74,8 triệu USD và 857,94 tỷ đồng, diện tích đất cho thuê 51,44 ha/51,44 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 100%.
- KCN Phan Thiết giai đoạn 2 thu hút được 12 dự án đầu tư (02 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 10 dự án đầu tư có vốn trong nước), với tổng vốn đầu tư đăng ký 11,85 triệu USD và 548,08 tỷ đồng, diện tích đất cho thuê 23,01 ha/28,09 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 81,92%.
- KCN Hàm Kiệm I thu hút được 21 dự án đầu tư (08 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 13 dự án đầu tư có vốn trong nước) với tổng vốn đầu tư đăng ký là 1.676,9 tỷ đồng và 56,18 triệu USD, diện tích đất cho thuê 59,25 ha/90,78 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 65,27%.
- KCN Hàm Kiệm II thu hút được 17 dự án đầu tư (07 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 10 dự án đầu tư có vốn trong nước) với tổng vốn đầu tư đăng ký là 772,41 tỷ đồng và 185,58 triệu USD, diện tích đất cho thuê 87,99 ha/276,93 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 31,77%.
- KCN Sông Bình thu hút được 03 dự án đầu tư có vốn trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký là 13.544,93 tỷ đồng, diện tích đất cho thuê 58,35 ha/202,32 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 28,84%.
- KCN Tân Đức thu hút được 01 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký là 100 tỷ đồng, diện tích đất cho thuê 1,5 ha/210,84 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 0,71%.
- KCN Tâm Thắng đã thu hút được 47 dự án đầu tư (gồm 04 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 43 dự án đầu tư có vốn trong nước) với tổng vốn đăng ký đầu tư 1.948,8 tỷ đồng và 12,3 triệu USD; diện tích thuê lại 130 ha/134 ha, tỷ lệ lấp đầy 97,01%.
- KCN Nhân Cơ thu hút được 01 dự án với quy mô 129,42 ha, tổng vốn đầu tư đăng ký 18.423 tỷ đồng, tỷ lệ lắp đầy KCN 87,44%.
- Các KCN đang xây dựng, chưa thu hút dự án đầu tư: KCN Tuy Phong; KCN Sơn Mỹ 1; KCN Sơn Mỹ 2; KCN Phú Bình; KCN Nhân Cơ 2.
2. Xây dựng
Hoạt động ngành xây dựng trên địa bàn tỉnh duy trì đà tăng trưởng khá, giá trị sản xuất tăng so với năm trước; khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước giữ vai trò chủ lực, trong khi xây dựng công trình kỹ thuật dân dụng và nhà ở là động lực tăng trưởng chính. Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng nhìn chung ổn định và có triển vọng tích cực, tạo nền tảng thuận lợi cho ngành xây dựng tiếp tục phát triển.
Giá trị sản xuất ngành xây dựng quý IV/2025 theo giá hiện hành ước đạt 19.531 tỷ đồng, tăng 8,45% so với cùng kỳ. Lũy kế năm 2025, giá trị sản xuất xây dựng ước đạt 62.658,8 tỷ đồng, tăng 9,67% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng lớn nhất với 34.983,9 tỷ đồng (55,83%), tăng 13,65%; loại hình kinh tế khác đạt 26.869,8 tỷ đồng (42,88%), tăng 9,15%. Ngược lại, doanh nghiệp nhà nước chỉ đạt 102,1 tỷ đồng (0,16%), giảm 79,43%, và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 702,8 tỷ đồng (1,12%), giảm 43,11% so với cùng kỳ.
Theo loại công trình, quý IV/2025, giá trị sản xuất xây dựng theo giá hiện hành của công trình nhà ở ước đạt 7.991,42 tỷ đồng, tăng 1,38% so với cùng kỳ; công trình nhà không để ở đạt 4.148 tỷ đồng, tăng 23,96%; công trình kỹ thuật dân dụng đạt 5.375,9 tỷ đồng, tăng mạnh 79,51%; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 2.016,4 tỷ đồng, tăng 7,76%. Lũy kế năm 2025, giá trị sản xuất xây dựng theo giá hiện hành của công trình nhà ở ước đạt 26.715,8 tỷ đồng, tăng 11,57% so với cùng kỳ; công trình nhà không để ở đạt 11.977,9 tỷ đồng, tăng 0,68%; công trình kỹ thuật dân dụng đạt 16.883,6 tỷ đồng, tăng 13,29%; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 7.081,5 tỷ đồng, tăng 10,83% so với cùng kỳ.
Giá trị sản xuất ngành xây dựng chia theo loại công trình
qua các năm (theo giá so sánh 2010) - (ĐVT: Tỷ đồng)

Kết quả khảo sát xu hướng hoạt động sản xuất kinh doanh cho thấy 73,5% doanh nghiệp xây dựng nhận định tình hình sản xuất trong quý IV/2025 ổn định hoặc thuận lợi hơn quý III/2025, trong đó giá trị xây dựng dân dụng tăng 13,24% so với quý III/2025, phản ánh nhiều tín hiệu tích cực của lĩnh vực xây dựng. Bên cạnh đó, 72% doanh nghiệp xây dựng dự báo tình hình sản xuất trong quý I/2026 sẽ ổn định hoặc thuận lợi hơn quý IV/2025. Dự kiến trong năm 2026, ngành xây dựng tiếp tục duy trì đà tăng trưởng nhờ tổng vốn đầu tư công ở mức cao, tập trung vào giao thông, kết nối vùng, cùng với việc đẩy mạnh giải ngân đầu tư công và tăng tốc triển khai các dự án hạ tầng, đô thị và du lịch, tạo động lực thúc đẩy thị trường vật liệu xây dựng và xây dựng dân dụng phát triển.
3. Đầu tư phát triển
Tình hình hoạt động đầu tư trên địa bàn tỉnh tiếp tục tăng trưởng, tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng so với cùng kỳ; môi trường đầu tư cải thiện với số doanh nghiệp thành lập mới và quay lại hoạt động tăng mạnh. Tuy nhiên, tiến độ giải ngân và triển khai một số dự án, công trình trọng điểm còn chậm do vướng mắc về mặt bằng, thủ tục và năng lực nhà thầu, đòi hỏi tiếp tục tập trung tháo gỡ để tạo động lực tăng trưởng thời gian tới.
Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trên địa bàn quý IV/2025 ước đạt 35.403,9 tỷ đồng, tăng 11,51% so với cùng kỳ. Lũy kế năm 2025, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội ước đạt 111.398,2 tỷ đồng, tăng 8,48% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn nhà nước đạt 24.830,5 tỷ đồng (chiếm 22,29%), tăng 4,14%; vốn ngoài nhà nước đạt 82.649,3 tỷ đồng (chiếm 74,19%), tăng 10,01%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 3.918,4 tỷ đồng (chiếm 3,52%), tăng 5,41%. Đáng chú ý, dự án Nhà máy chế biến khoai lang cắt lát đông lạnh tại KCN Tâm Thắng của Công ty TNHH Sejin F&S Vina (Hàn Quốc) với tổng vốn đầu tư hơn 155 tỷ đồng được khởi công đầu năm 2025, dự kiến đi vào hoạt động đầu năm 2026.
Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trên địa bàn qua các năm
(ĐVT: Tỷ đồng)

Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý thực hiện trong tháng ước đạt 1.768,2 tỷ đồng, tăng 5,79% so với tháng trước và giảm 1,35% so với tháng cùng kỳ năm trước do cuối năm điều chỉnh giảm kế hoạch vốn. Lũy kế cả năm 2025, vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 14.411,5 tỷ đồng, tăng 5,41% so với cùng kỳ năm trước, đạt 90,74% so với kế hoạch. Trong đó vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 14.371,2 tỷ đồng, tăng 5,52% so với cùng kỳ năm trước, đạt 90,82% so với kế hoạch; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 40,3 tỷ đồng, giảm 23,88% so với cùng kỳ năm trước, đạt 69,53% so với kế hoạch.
Trong năm 2025 (tính đến 22/12/2025), toàn tỉnh có 48 dự án đầu tư ngoài ngân sách được cấp mới với tổng vốn đăng ký 19.384,4 tỷ đồng. Lũy kế đến thời điểm hiện nay, tỉnh Lâm Đồng có 2.927 dự án đầu tư còn hiệu lực với tổng vốn khoảng 2.009.973,8 tỷ đồng, trong đó có 236 dự án FDI với tổng vốn 224.284 tỷ đồng.
Trong tháng (tính đến 18/12/2025), có 422 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 4,98% so với tháng trước và tăng 119,79% so với cùng kỳ; 96 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 123,26%; 56 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, giảm 28,21%; 73 doanh nghiệp giải thể, giảm 19,78% so với tháng trước. Lũy kế năm 2025, toàn tỉnh có 4.183 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 78,61%; 822 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 22,14%; 1.713 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, tăng 12,4%; 833 doanh nghiệp giải thể, tăng 76,48% so với cùng kỳ. Tổng vốn đăng ký đạt 22.959 tỷ đồng, tăng 18,76%; số lao động đăng ký 16.558 người, tăng 19,12%. Bình quân mỗi tháng có trên 400 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động, trong khi gần 70 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.
* Tình hình thực hiện đầu tư xây dựng các công trình trọng điểm
Trong năm 2025, việc triển khai các công trình, dự án trọng điểm trên địa bàn tỉnh còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là tiến độ giải ngân vốn chậm so với kế hoạch do vướng mắc về quy hoạch khoáng sản, cấp phép vật liệu xây dựng, năng lực một số nhà thầu và công tác giải phóng mặt bằng; tỉnh đã chỉ đạo các sở, ngành, địa phương tập trung tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ thực hiện.
- Dự án cao tốc Bắc - Nam phía Tây đoạn Gia Nghĩa - Chơn Thành có tổng chiều dài 124,13 km, quy mô 4 làn xe, chia thành 5 dự án thành phần; trong đó các dự án thành phần do tỉnh Đắk Nông (cũ) phụ trách gồm dự án đường gom, cầu vượt với vốn bố trí 32,5 tỷ đồng, giải ngân 17,3 tỷ đồng, đạt 22,13%, và dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được bố trí 217,5 tỷ đồng.
- Dự án cao tốc Tân Phú - Bảo Lộc đã hoàn thành công tác cắm cọc, bàn giao mặt bằng tại các địa phương có tuyến đi qua, dự kiến giải ngân khoảng 1.200 tỷ đồng đến ngày 31/01/2026.
- Dự án cao tốc Bảo Lộc - Liên Khương (giai đoạn 1) đã khởi công hơn 5 tháng nhưng chưa thể triển khai thi công do vướng mặt bằng; đến đầu tháng 12/2025, công tác giải phóng mặt bằng đạt 98,36% với 2.404/2.440 hồ sơ được kiểm đếm, song vẫn còn một số khó khăn liên quan đến giá bồi thường và hồ sơ đất đai.
- Dự án đường Đạo Nghĩa - Quảng Khê giai đoạn 2 có tổng mức đầu tư 830 tỷ đồng, chiều dài 25,8 km hiện chưa có mặt bằng sạch, tiến độ chậm, tỉnh đã xem xét điều chuyển một phần vốn sang các dự án có khả năng triển khai nhanh hơn.
- Dự án Nâng cấp Bệnh viện đa khoa tỉnh Đắk Nông (cũ) có tổng mức đầu tư 753 tỷ đồng, kế hoạch vốn năm 2025 là 270,4 tỷ đồng; đến nay các hạng mục chính đạt 95–98% khối lượng và dự kiến hoàn thành, đưa vào sử dụng cuối tháng 12/2025.
- Dự án Quảng trường trung tâm thành phố Gia Nghĩa (cũ) với tổng mức đầu tư hơn 400 tỷ đồng đang được đẩy nhanh tiến độ, tập trung hoàn thiện các hạng mục mặt sân, hạ tầng kỹ thuật và cảnh quan.
- Dự án cải thiện môi trường đô thị Gia Nghĩa được phê duyệt tại Quyết định số 405/QĐ-UBND ngày 21/3/2025 với tổng mức đầu tư 1.499,21 tỷ đồng (vốn vay ADB 1.001,94 tỷ đồng, vốn đối ứng 497,28 tỷ đồng) và đã chính thức khởi công trong năm 2025.
- Các dự án cải tạo, nâng cấp Tỉnh lộ 1, 2, 3 tiếp tục triển khai, trong đó Tỉnh lộ 1 hoàn thành khoảng 30% khối lượng, Tỉnh lộ 2 đã thông xe kỹ thuật trước Tết Nguyên đán 2026, Tỉnh lộ 3 dự kiến đưa vào sử dụng trong quý I/2026 nhưng còn bị ảnh hưởng bởi chồng lấn quy hoạch bô-xít.
- Dự án Cảng hàng không Phan Thiết (hạng mục hàng không dân dụng theo hình thức BOT) và Khu đô thị sân bay Phan Thiết có tổng mức đầu tư dự kiến 3.797 tỷ đồng, công suất thiết kế 2 triệu hành khách/năm đến năm 2030.
- Dự án đường sắt tốc độ cao qua địa bàn tỉnh đang hoàn thiện các thủ tục chuẩn bị đầu tư, đồng thời triển khai xây dựng 8 khu tái định cư với tổng diện tích 27,7 ha, tổng vốn khoảng 429 tỷ đồng; đã niêm yết phương án bồi thường 100/111 trường hợp và phê duyệt 14/111 trường hợp.
- Dự án đường và quỹ đất từ Lê Duẩn lên đường bộ cao tốc đã cơ bản hoàn thành công tác cắm cọc, đang hoàn thiện báo cáo nghiên cứu khả thi, với diện tích thu hồi khoảng 242 ha.
- Dự án đường trục ven biển ĐT.719B đoạn Phan Thiết - Kê Gà đã đưa vào khai thác 17,8 km, phần còn lại 3,88 km tiếp tục vướng mặt bằng khu vực mỏ titan; đoạn Hòn Lan - Tân Hải đang duy trì thi công song tiến độ vẫn chịu ảnh hưởng bởi mặt bằng.
- Dự án cầu Văn Thánh tiếp tục chậm tiến độ do vướng mắc trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng.
- Dự án nâng cấp Quốc lộ 28B có tổng chiều dài 68 km, tổng mức đầu tư hơn 1.400 tỷ đồng, dự kiến hoàn thành tháng 3/2026; dự án sửa chữa Quốc lộ 27, 27C, 55 đoạn Km106-Km116 có kinh phí 52,8 tỷ đồng, dự kiến hoàn thành cuối năm 2025.
- Các dự án thủy lợi như hồ Ka Zam (495,5 tỷ đồng), hồ Ta Hoét (981,6 tỷ đồng) và hồ Ka Pét tiếp tục gặp khó khăn về giải phóng mặt bằng và thủ tục đầu tư.
- Dự án cải thiện cơ sở hạ tầng phát triển nông nghiệp từ nguồn vốn ODA của Nhật Bản có tổng mức đầu tư 1.159,44 tỷ đồng đang triển khai công tác bồi thường và lựa chọn nhà thầu.
- Dự án đường Cam Ly - Phước Thành đạt khoảng 73,11% giá trị hợp đồng; dự án xây dựng thay thế 5 cầu yếu đã hoàn thành 3 cầu; dự án hệ thống kênh mương hồ Đạ Lây - Đạ Sị đang thực hiện đo đạc, kiểm đếm phục vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng.
IV. Thương mại; giá cả; du lịch; giao thông vận tải
Trong năm 2025 hoạt động thương mại, dịch vụ ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu đời sống, sinh hoạt của nhân dân; lưu thông hàng hóa thông suốt, tình hình thị trường và giá cả hàng hóa trên địa bàn tỉnh nhìn chung ổn định, không xảy ra tình trạng đầu cơ, găm hàng, tăng giá quá mức; xúc tiến thương mại trong và ngoài nước tiếp tục được quan tâm; du lịch tiếp tục phát triển ổn định, thúc đẩy tăng trưởng các ngành kinh tế tại địa phương; vận tải kho bãi diễn ra khá nhộn nhịp, tăng khá so với cùng kỳ năm trước.
1. Thương mại
1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ
Tình hình thị trường bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ tăng trưởng ổn định, đáp ứng kịp thời nhu cầu của người dân, nhất là trong dịp cuối tuần, lễ, tết. Các trung tâm siêu thị, chợ, các cơ sở kinh doanh tăng cường phục vụ người dân và du khách, không để xảy ra gián đoạn kinh doanh, không để xảy ra tình trạng khan hiếm hàng hóa; giá cả thị trường hàng hóa luôn ổn định, không tăng đột biến. Hoạt động du lịch, nhà hàng, cơ sở ăn uống, cơ sở lưu trú và các dịch vụ khác luôn mở cửa phục vụ cho người dân và du khách.
Trong tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ ước đạt 25.203,5 tỷ đồng, tăng 5,49% so với tháng trước và tăng 24,41% so với cùng kỳ; trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 16.879,2 tỷ đồng, tăng 4,57% so với tháng trước và tăng 22,89% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 5.688,1 tỷ đồng, tăng 8,89% so với tháng trước và tăng 33,38% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 2.636,2 tỷ đồng, tăng 4,34% so với tháng trước và tăng 16,68% so với cùng kỳ năm trước.
Quý IV/2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ ước đạt 73.109 tỷ đồng, tăng 7,87% so với quý trước và tăng 23,29% so với cùng kỳ; trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 49.131,4 tỷ đồng, tăng 9,47% so với quý trước và tăng 22,36% so với quý cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 16.296,6 tỷ đồng, tăng 10,9% so với quý trước và tăng 30,34% so với quý cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 7.678 tỷ đồng, giảm 6,29% so với quý trước và tăng 15,62% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ thông tin truyền thông quý IV/2025 ước đạt 117,4 tỷ đồng, tăng 3,06% so với quý trước và tăng 4,25% so với quý cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ chuyên môn, khoa học và công nghệ ước đạt 263,6 tỷ đồng, tăng 4,19% so với quý trước và tăng 10,29% so với quý cùng kỳ năm trước.
Lũy kế năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ ước đạt 261.381,8 tỷ đồng, tăng 16,28% so với cùng kỳ năm trước; trong đó tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 175.214,4 tỷ đồng, tăng 16,25%; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 57.254,8 tỷ đồng, tăng 19,06%; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 28.912,6 tỷ đồng và tăng 11,31%. Doanh thu dịch vụ thông tin truyền thông đạt 449,2 tỷ đồng, tăng 3,81% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ chuyên môn, khoa học và công nghệ đạt 969,5 tỷ đồng, tăng 7,46%. Nhìn chung, thị trường bán lẻ và dịch vụ năm 2025 tăng trưởng ổn định, nguồn cung hàng hóa dồi dào, giá cả ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng và du lịch, đặc biệt trong các dịp lễ, tết.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ qua các năm
(ĐVT: tỷ đồng)

Riêng tổng mức bán lẻ hàng hóa trong tháng ước đạt 16.879,2 tỷ đồng, tăng 4,57% so với tháng trước và tăng 22,89% so với cùng kỳ năm trước. Quý IV/2025 tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 49.134,4 tỷ đồng, tăng 9,47% so với quý trước và tăng 22,36% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế năm 2025 tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 175.214,4 tỷ đồng, tăng 16,25% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: lương thực, thực phẩm ước đạt 81.422,4 tỷ đồng, tăng 21,22% so với cùng kỳ năm trước; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình ước đạt 17.714,2 tỷ đồng, tăng 16,29% so với cùng kỳ năm trước; gỗ và vật liệu xây dựng ước đạt 16.399,1 tỷ đồng, tăng 6,94% so với cùng kỳ năm trước; xăng, dầu các loại ước đạt 23.000,3 tỷ đồng, tăng 4,26% so với cùng kỳ năm trước.
1.2. Công tác quản lý thị trường
Tình hình lưu thông hàng hóa trên địa bàn tỉnh diễn ra thuận lợi, các hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện lợi, cơ sở kinh doanh bán lẻ hoạt động bình thường, cung ứng lượng hàng hóa dồi dào, đa dạng về chủng loại, phục vụ đầy đủ nhu cầu tiêu dùng của người dân, không có tình trạng găm hàng, sốt giá; không có hiện tượng mất an toàn thực phẩm. Các cửa hàng xăng dầu trên địa bàn tỉnh cung ứng kịp thời nhu cầu tiêu dùng của người dân. Kết quả hoạt động kiểm tra, kiểm soát thị trường từ ngày 15/11-14/12/2025: Tổng số vụ kiểm tra: 70 vụ; tổng số vụ vi phạm: 69 vụ; tổng số vụ xử lý: 75 vụ (06 vụ kỳ trước chuyển sang); số vụ đang xử lý: 01 vụ (từ kỳ trước chuyển sang); tổng số tiền xử phạt: 442,75 triệu đồng; trị giá hàng hóa buộc tiêu hủy: 317,85 triệu đồng. Kết quả hoạt động kiểm tra, kiểm soát thị trường lũy kế từ ngày 15/12/2024 đến ngày 14/12/2025: Tổng số vụ kiểm tra: 752 vụ; tổng số vụ vi phạm và xử lý hành chính: 678 vụ (01 vụ thanh tra kỳ trước chuyển sang); tổng số vụ chuyển cơ quan Cảnh sát điều tra: 02 vụ; số vụ đang xử lý: 01 vụ; tổng số tiền xử phạt: 5.282,86 triệu đồng; trị giá hàng hóa vi phạm: 3.430,37 triệu đồng.
2. Giá cả
2.1. Giá tiêu dùng (CPI)
Giá lương thực, thực phẩm, giá gas, giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng là những nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng tăng 0,45% so với tháng trước, tăng 5,86% so với cùng kỳ năm trước, CPI bình quân 12 tháng năm 2025 so với cùng kỳ năm trước tăng 3,56%.
Tốc độ tăng/giảm CPI tháng 12 so với cùng kỳ qua các năm (ĐVT: %)

So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 07 nhóm hàng tăng giá: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,26%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,67%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,54%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,33%; May mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,27%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,05%; Giáo dục tăng 0,05%. Có 01 nhóm hàng giá ổn định: Thuốc và dịch vụ y tế 100%. Có 03 nhóm hàng giảm giá: Đồ uống và thuốc lá giảm 0,06%; Thông tin và truyền thông giảm 0,12%; Giao thông giảm 1,03%.
* Nguyên nhân làm tăng, giảm CPI trong tháng
- Nguyên nhân tăng CPI: Giá hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,26% so với tháng trước, do ảnh hưởng ngập lụt, nguồn cung các mặt hàng như gạo, rau tươi, thịt lợn, thịt gia cầm tăng nên giá lương thực, thực phẩm tăng so với tháng trước. Đồng thời tháng 12 đang là mùa cưới hỏi, mùa Noel, Tết Dương lịch sắp đến, nhu cầu tiêu dùng thị trường tăng cao. Giá gas tháng 12/2025 tăng 2,18% so với tháng trước, do giá gas trong nước điều chỉnh tăng 8.500 đồng/bình 12 kg theo giá gas thế giới. Giá gas thế giới bình quân tháng 12/2025 công bố ở mức 490 USD/tấn, tăng 22,5 USD/tấn so với tháng 11/2025. Chỉ số giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,63% do giá xi măng, cát, đá, gạch xây, gạch bê tông, tấm lợp, sơn tường… tăng theo giá nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất và nhu cầu sửa chữa, xây dựng cuối năm tăng cao.
- Nguyên nhân làm giảm CPI: Giá xăng, dầu trong nước được điều chỉnh vào các ngày 04, 11, 18 và 25 tháng 12/2025, tính bình quân chung tháng 12/2025 chỉ số giá mặt hàng nhiên liệu giảm 2,37% so với tháng trước. Giá nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,12% so tháng trước, do các cửa hàng điện máy xanh, cửa hàng thế giới di động đang có chương trình khuyến mãi nhân dịp cuối năm các mặt hàng điện thoại, phụ kiện điện thoại…
* Các yếu tố làm tăng, giảm CPI năm 2025 so bình quân cùng kỳ
- Các yếu tố làm tăng CPI bình quân năm 2025: Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng cao nhất 13,82% làm CPI chung tăng 0,85 điểm phần trăm, áp dụng giá dịch vụ y tế tăng theo Thông tư số 21/2024/TT-BYT ngày 17/10/2024 của Bộ Y tế; Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,34% làm CPI chung tăng 0,80 điểm phần trăm, do giá nhà ở thuê và giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng. Trong đó, chỉ số giá nhóm điện sinh hoạt tăng 8,38% do nhu cầu sử dụng điện tăng đồng thời ngày 09/5/2025 EVN điều chỉnh mức giá bán lẻ điện bình quân; Chỉ số giá nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,62% làm CPI chung tăng 0,17 điểm phần trăm, trong đó các mặt hàng trang sức bằng vàng tăng 29,41% do ảnh hưởng giá vàng trong trước tăng theo giá vàng thế giới; giá bảo hiểm y tế tăng 14,02% do tăng theo Nghị định số 24/2023/NĐ-CP, ngày 01/7/2024 mức lương cơ sở được điều chỉnh tăng từ 1.800.000 đồng lên 2.340.000 đồng, theo đó bảo hiểm y tế cho cán bộ công chức và người lao động cũng được tăng theo; Chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,01% tác động làm CPI chung tăng 1,41 điểm phần trăm, trong đó chỉ số giá nhóm thực phẩm tăng 4,51%, tác động làm CPI chung tăng 1,02 điểm phần trăm, tăng mạnh chủ yếu giá thịt lợn tăng 10,35%. Nguyên nhân do nguồn cung ít, nhu cầu tiêu dùng tăng trong các dịp Lễ, Tết; Chỉ số giá nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 2,92%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,75%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,38%. Nguyên nhân do tăng cao trong dịp Lễ Tết, cùng với nguyên liệu đầu vào và chi phí sản xuất tăng nên các nhà cung ứng tăng giá bán thị trường tiêu dùng; Chỉ số giá nhóm giáo dục tăng 2,39%, làm CPI chung tăng 0,16 điểm phần trăm do một số trường đại học, trung học dân lập, mầm non tư thục điều chỉnh tăng học phí thường niên.
- Các yếu tố làm giảm CPI bình quân năm 2025: Giá gas trong nước biến động theo giá gas thế giới, bình quân năm 2025 giảm 2,36% so với cùng kỳ năm trước; Chỉ số giá nhóm giao thông giảm 1,58% so cùng kỳ năm trước góp phần làm CPI chung giảm 0,15 điểm phần trăm, trong đó giá giảm chủ yếu các mặt hàng nhiên liệu giảm 7,86%, do ảnh hưởng các đợt điều chỉnh giá xăng dầu trong nước.
2.2. Tình hình biến động giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản; giá sản xuất công nghiệp và giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất
- Giá sản xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản: Quý IV/2025, chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,46% so với quý trước và tăng 7,81% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, giá sản phẩm nông nghiệp tăng mạnh, chủ yếu do giá cây lâu năm và một số nông sản chủ lực tiếp tục duy trì ở mức cao nhờ nhu cầu thị trường ổn định và chi phí đầu vào tăng. Giá sản phẩm chăn nuôi có xu hướng tăng chậm hơn do nguồn cung dồi dào, trong khi giá lâm nghiệp và thủy sản biến động nhẹ, chịu tác động của điều kiện thời tiết và chi phí khai thác. Tính chung năm 2025, chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 16,11% so với năm trước; trong đó nông nghiệp tăng 17,25%, chăn nuôi tăng 8,87%, lâm nghiệp tăng 3,07% và thủy sản tăng 4,25%. Mức tăng này phản ánh rõ tác động của biến động thời tiết, chi phí vật tư nông nghiệp tăng và nhu cầu tiêu thụ, xuất khẩu nông sản cải thiện.
- Giá nguyên, nhiên vật liệu dùng cho sản xuất: Quý IV/2025, chỉ số giá nguyên, nhiên vật liệu dùng cho sản xuất tăng 5,08% so với cùng kỳ năm trước, tập trung chủ yếu ở nhóm sản phẩm khai khoáng, điện, khí đốt và hơi nước. Giá một số loại vật liệu đầu vào phục vụ sản xuất công nghiệp và xây dựng duy trì ở mức cao do chi phí năng lượng, vận chuyển và nhập khẩu tăng. Bình quân năm 2025, chỉ số giá nguyên, nhiên vật liệu tăng 2,83% so với năm trước; trong 7 nhóm sản phẩm chính, các nhóm hàng đều tăng giá so với cùng kỳ năm trước, gồm: nhóm sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tăng 6,22%; sản phẩm từ khai khoáng tăng 10,26%; nguyên vật liệu khác tăng 0,11%; điện, khí đốt, hơi nước và điều hòa không khí tăng 6,77%; nước tự nhiên khai thác tăng 0,53%; sản phẩm xây dựng tăng 3,31%; dịch vụ chuyên môn khoa học và công nghệ tăng 3,75%. Nhìn chung, giá nguyên, nhiên vật liệu trong quý IV và cả năm 2025 có xu hướng tăng, phản ánh chi phí đầu vào gia tăng do tác động của giá năng lượng và nguyên liệu cơ bản; tuy nhiên mức tăng bình quân năm vẫn được kiểm soát, cho thấy công tác điều hành giá hiệu quả và phù hợp với đà phục hồi, mở rộng sản xuất của các ngành kinh tế.
- Giá sản xuất công nghiệp: Quý IV/2025, giá sản xuất công nghiệp tiếp tục chịu tác động từ biến động tăng của giá nguyên, nhiên vật liệu, đặc biệt là điện, nhiên liệu và khoáng sản, làm chi phí sản xuất của doanh nghiệp tăng lên. Tuy nhiên, mức tăng giá được kiểm soát nhờ năng lực điều tiết sản xuất và thị trường tiêu thụ tương đối ổn định. Tính chung năm 2025, giá sản xuất công nghiệp biến động phù hợp với xu hướng tăng của giá đầu vào, phản ánh áp lực chi phí đối với hoạt động sản xuất công nghiệp, đồng thời đặt ra yêu cầu doanh nghiệp nâng cao hiệu quả quản trị, tiết giảm chi phí và thích ứng với biến động giá trong thời gian tới.
3. Hoạt động du lịch
Hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh tiếp tục tăng trưởng tích cực, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội. Riêng tháng 12/2025, nhiều sự kiện văn hóa, du lịch quy mô lớn được tổ chức như Lễ hội Cồng chiêng Đông Nam Á 2025 với chủ đề “Âm vang Di sản - Gắn kết tương lai”, Lễ hội Trà quốc tế - World Tea Fest 2025, Trình diễn thời trang thổ cẩm, Lễ hội Di sản Cà phê toàn cầu 2025 (gồm không gian trưng bày “Cà phê và Di sản Việt Nam”, không gian ẩm thực - thưởng thức cà phê, triển lãm lịch sử cà phê, trải nghiệm pha chế, đêm nhạc “Coffee Music Night”) và Chương trình Countdown chào đón năm mới 2026, đã thu hút đông đảo người dân và du khách. Hoạt động lữ hành và các dịch vụ hỗ trợ được tăng cường, đáp ứng tốt nhu cầu tham quan, trải nghiệm. Công tác xúc tiến, quảng bá du lịch và liên kết vùng tiếp tục được đẩy mạnh, góp phần nâng cao hình ảnh điểm đến; nhiều khu, điểm du lịch như NovaWorld Phan Thiết, Phú Quý, Thung lũng Tình yêu, Hồ Xuân Hương, thác Prenn, Cù Lao Câu ngày càng khẳng định sức hút, tạo động lực cho tăng trưởng du lịch bền vững trong năm 2025.
Trong tháng, lượt khách du lịch ước đạt 1.852,1 nghìn lượt khách, tăng 10,22% so với tháng trước và tăng 23,86% so với cùng kỳ năm trước (trong đó khách trong ngày đạt 66,2 nghìn lượt, tăng 5,86% so với tháng trước và tăng 8,58% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ đạt 3.453,7 nghìn ngày, tăng 10,88% so với tháng trước và tăng 33,48% so với cùng kỳ; lượt khách quốc tế đạt 130 nghìn lượt, tăng 15,59% so với tháng trước và tăng 58,03% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ đạt 349,3 nghìn ngày khách, tăng 16,81% so với tháng trước và tăng 69,93% so với cùng kỳ năm trước.
Quý IV/2025, lượt khách du lịch ước đạt 5.424 nghìn lượt, tăng 9,1% so với quý trước và tăng 17,64% so với cùng kỳ (trong đó khách trong ngày đạt 204,9 nghìn lượt, tăng 11,03% so với quý trước và tăng 8,07% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ đạt 9.658,4 nghìn ngày, tăng 7,36% so với quý trước và tăng 18,27% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách quốc tế đạt 330,9 nghìn lượt, tăng 27,05% so với quý trước và tăng 41,66% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ đạt 929,5 nghìn ngày khách, tăng 13,46% so với quý trước và tăng 59,24% so với quý cùng kỳ năm trước.
Lũy kế năm 2025, lượt khách du lịch tiếp tục là điểm sáng của khu vực dịch vụ, với 20.733,1 nghìn lượt khách, tăng 17,91% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày đạt 809,9 nghìn lượt, tăng 9,99%); ngày khách phục vụ ước đạt 38.145,6 nghìn ngày khách, tăng 22,65%; lượt khách quốc tế ước đạt 1.287 nghìn lượt khách, tăng 39,78%; ngày khách phục vụ ước đạt 4.018,8 nghìn ngày khách, tăng 61,74%. Thị trường khách quốc tế đến tỉnh chiếm tỷ trọng lớn như Hàn Quốc, Trung Quốc, Liên Bang Nga, Mỹ, Đài Loan, Đức, Anh, Malaixia....
Doanh thu dịch vụ lưu trú trong tháng ước đạt 1.117,3 tỷ đồng, tăng 11,3% so với tháng trước và tăng 45,56% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 4.466,2 tỷ đồng, tăng 8,39% so với tháng trước và tăng 29,09% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 104,6 tỷ đồng, tăng 5,25% so với tháng trước và tăng 2,8 lần so với cùng kỳ năm trước. Quý IV/2025 doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 3.181,2 tỷ đồng, tăng 13,48% so với quý trước và tăng 37,91% so với quý cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 12.891,7 tỷ đồng, tăng 9,02% so với quý trước và tăng 27,73% so với quý cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 223,7 tỷ đồng, tăng 3,3 lần so với quý trước và tăng 2,16 lần so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế năm 2025 doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 11.007,3 tỷ đồng, tăng 21,48% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống đạt 45.599,1 tỷ đồng, tăng 17,93% so cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành đạt 648,3 tỷ đồng, tăng 78,47% so cùng kỳ năm trước.
Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 5.094,1 tỷ đồng, tăng 10,88% so với tháng trước và tăng 21,61% so với cùng kỳ. Quý IV/2025 ước đạt 14.307,6 tỷ đồng, tăng 8,05% so với quý trước và tăng 23,45% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế năm 2025 ước đạt 56.610,6 tỷ đồng, tăng 24,1% so với cùng kỳ năm trước.
Lượt khách và ngày khách phục vụ qua các năm

4. Hoạt động dịch vụ khác
Trong năm, tình hình hoạt động các ngành dịch vụ khác duy trì đà tăng trưởng khá, phản ánh nhu cầu xã hội phục hồi và mở rộng, đặc biệt ở các lĩnh vực bất động sản, giáo dục - đào tạo, y tế và dịch vụ vui chơi, giải trí; tuy có biến động giảm theo quý do yếu tố mùa vụ nhưng xu hướng chung cả năm vẫn tích cực.
Trong tháng, tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 2.636,2 tỷ đồng, tăng 4,34% so với tháng trước và tăng 16,68% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 315 tỷ đồng, tăng 1,89% so với tháng trước và tăng 12,94% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 116,7 tỷ đồng, tăng 4,2% so với tháng trước và tăng 8,6% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 87,3 tỷ đồng, tăng 3,81% so với tháng trước và tăng 12,93% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 156,6 tỷ đồng, tăng 3,67% so với tháng trước và tăng 28,97% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 1.412,7 tỷ đồng, tăng 5% so với tháng trước và tăng 18,17% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ khác ước đạt 547,8 tỷ đồng, tăng 4,41% so với tháng trước và tăng 14,43% so với cùng kỳ năm trước.
Quý IV/2025, tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 7.678 tỷ đồng, giảm 6,29% so với quý trước và tăng 15,62% so với quý cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 921 tỷ đồng, tăng 5,79% so với quý trước và tăng 12,84% so với quý cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 337,2 tỷ đồng, giảm 10,11% so với quý trước và tăng 8,49% so với quý cùng kỳ; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 258 tỷ đồng, tăng 1,04% so với quý trước và tăng 14,33% so với quý cùng kỳ; doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 458,6 tỷ đồng, giảm 4,49% so với quý trước và tăng 29,21% so với quý cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 4.110,7 tỷ đồng, giảm 9,73% so với quý trước và tăng 16,76% so với quý cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ khác ước đạt 1.592,4 tỷ đồng, giảm 3,99% so với quý trước và tăng 12,9% so với quý cùng kỳ năm trước.
Lũy kế năm 2025 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 28.912,6 tỷ đồng, tăng 11,31% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 3.262,6 tỷ đồng, tăng 14,11% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 1.290,3 tỷ đồng, tăng 13,83% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 929,5 tỷ đồng, tăng 28,99% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 1.567,1 tỷ đồng, tăng 18,6% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 15.810 tỷ đồng, tăng 9,75% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ khác ước đạt 6.053 tỷ đồng, tăng 9,36% so với cùng kỳ năm trước.
5. Hoạt động vận tải
Tình hình hoạt động vận tải và dịch vụ hỗ trợ vận tải trên địa bàn tỉnh duy trì đà tăng trưởng khá và ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu đi lại, lưu thông hàng hóa và phát triển sản xuất, kinh doanh. Vận tải hành khách và hàng hóa đều tăng cả về khối lượng vận chuyển và luân chuyển; doanh thu vận tải, kho bãi tăng khá, đặc biệt là dịch vụ kho bãi và hỗ trợ vận tải. Hoạt động thông quan hàng hóa qua Cảng quốc tế Vĩnh Tân diễn ra ổn định, chủ yếu là xuất khẩu các mặt hàng vật liệu và sản phẩm công nghiệp, góp phần thúc đẩy lưu thông hàng hóa và tăng trưởng kinh tế địa phương.
- Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong tháng ước đạt 4.088,2 nghìn HK, tăng 5,32% so với tháng trước và tăng 17,38% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 577.285,4 nghìn HK.Km, tăng 5,36% so với tháng trước và tăng 12,44% so với cùng kỳ năm trước. Quý IV/2025 lượt khách vận chuyển ước đạt 11.872,1 nghìn HK, tăng 15,56% so với quý cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 1.675.560,5 nghìn HK.Km, tăng 11,45% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế năm 2025, lượt khách vận chuyển ước đạt 46.326,2 nghìn HK, tăng 12,11% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 6.727.883,2 nghìn HK.Km, tăng 12,66% so với cùng kỳ năm trước.
- Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong tháng 2025 ước đạt 2.112,9 nghìn tấn, tăng 3,50% so với tháng trước và tăng 12,12% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 307.978,1 nghìn tấn.Km, tăng 3,78% so với tháng trước và tăng 16,36% so với cùng kỳ năm trước. Quý IV/2025 khối lượng vận chuyển ước đạt 6.247,4 nghìn tấn, tăng 11,41% so với quý cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 902.500,5 nghìn tấn.Km, tăng 12,91% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế năm 2025, khối lượng vận chuyển ước đạt 22.984,9 nghìn tấn, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 3.367.443 nghìn tấn.Km, tăng 8,23% so với cùng kỳ năm trước.
- Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi: Trong tháng ước đạt 1.306,6 tỷ đồng, tăng 4,97% so với tháng trước và tăng 18,98% so với cùng kỳ năm trước. Quý IV/2025 ước đạt 3.785,6 tỷ đồng, tăng 16,50% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế năm 2025 ước đạt 14.416,3 tỷ đồng, tăng 15,45% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: doanh thu vận tải hành khách ước đạt 6.132,1 tỷ đồng, tăng 19,31% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 6.105,1 tỷ đồng, tăng 6,81%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 2.116,5 tỷ đồng, tăng 34,11%; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 62,5 tỷ đồng, tăng 15,52%.
- Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân: Trong tháng ước đạt 125 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 75 nghìn tấn (tro bay, cát, xỉ than, muối xá, quặng), nhập cảng 50 nghìn tấn (xi măng, cao lanh, máy móc, muối xá). Năm 2025 ước đạt 2.466,1 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 2.277,2 nghìn tấn (muối xá, đá xá, tro bay, cát, xỉ than); nhập cảng 188,9 nghìn tấn (túi xi măng, cao lanh, bột đá, máy móc, muối xá).
Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi qua các năm
(ĐVT: Tỷ đồng)

V. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng
1. Thu ngân sách nhà nước
Ước thu ngân sách nhà nước trong tháng đạt 2.928 tỷ đồng, giảm 30,66% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế năm 2025 ước đạt 31.319 tỷ đồng (bằng110,86% kế hoạch, tăng 9,59% so cùng kỳ). Trong đó: thu nội địa ước đạt 29.680 tỷ đồng (bằng 111,53% kế hoạch, tăng 16,38% so cùng kỳ); thu xuất nhập khẩu ước đạt 1.639 tỷ đồng, (bằng 100,00% kế hoạch, giảm 46,69% so cùng kỳ).
Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa như: thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 3.924 tỷ đồng (bằng 156,25% kế hoạch năm và tăng 71,80% so với cùng kỳ); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 1.515 tỷ đồng (bằng 123,29% kế hoạch năm và tăng 10,50%); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 7.035 tỷ đồng (bằng 110,91% kế hoạch năm và tăng 4,83%); thuế thu nhập cá nhân ước đạt 3.052 tỷ đồng (bằng 118,19% kế hoạch năm và tăng 17,95%); các khoản thu về nhà, đất ước đạt 4.789 tỷ đồng (bằng 94,77% kế hoạch năm và tăng 24,76%); thu từ xổ số kiến thiết ước đạt 4.660 tỷ đồng (bằng 103,74% kế hoạch năm và tăng 7,88%).
Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn qua các năm

2. Chi ngân sách Nhà nước
Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh năm 2025 ước đạt 47.984 tỷ đồng (bằng 100% kế hoạch, tăng 17,85% so với cùng kỳ). Trong đó: chi đầu tư phát triển ước đạt 13.748 tỷ đồng, tăng 17,26% so với cùng kỳ; chi thường xuyên ước đạt 33.342 tỷ đồng, tăng 15,73% so với cùng kỳ.
3. Hoạt động tín dụng
- Công tác huy động vốn: đến 30/11/2025, huy động vốn của các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn tỉnh đạt 225.531 tỷ đồng, so với đầu năm tăng 29.641 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 15,13%. Trong đó, huy động bằng đồng Việt Nam đạt 223.098 tỷ đồng (chiếm 99% tổng huy động vốn), huy động bằng ngoại tệ đạt 2.433 tỷ đồng, (chiếm 1% tổng huy động vốn). Ước đến 31/12/2025, huy động vốn toàn tỉnh đạt 227.500 tỷ đồng, tăng 15,96 so với đầu năm, tương ứng tăng 36.316 tỷ đồng.
- Hoạt động tín dụng: đến 30/11/2025, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh đạt 367.468 tỷ đồng, so với đầu năm tăng 28.005 tỷ đồng, tăng 8,25%. Trong đó, dư nợ cho vay bằng đồng Việt Nam đạt 365.197 tỷ đồng (chiếm 99% tổng dư nợ); dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 2.271 tỷ đồng (chiếm 1% tổng dư nợ tổng dư nợ). Dư nợ cho vay ngắn hạn là 263.023 tỷ đồng, dư nợ cho vay trung dài hạn là 104.445 tỷ đồng. Ước tính đến ngày 31/12/2025, dư nợ cho vay đạt 373.000 tỷ đồng, tăng 9,89% so với đầu năm, tăng 33.577 tỷ đồng.
- Tình hình thực hiện lãi suất: lãi suất huy động Việt Nam đồng kỳ hạn dưới 1 tháng hiện phổ biến ở mức 0,18% - 0,49%/năm, kỳ hạn 1 tháng đến dưới 6 tháng 3,63% - 4,62%/năm, kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng 5,19% - 5,88%/năm, kỳ hạn từ 12 tháng trở lên 6,01% - 6,75%/năm. Lãi suất cho vay Việt Nam đồng cho vay các đối tượng ưu tiên ngắn hạn 4%/năm; cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh ngắn hạn ở mức 6,93% - 9,28%/năm, trung dài hạn 8,57% - 9,88%/năm. Lãi suất cho vay USD ngắn hạn 3,92% - 4,13%/năm.
- Dư nợ cho vay: đến 30/11/2025, dư nợ cho vay ngành du lịch - dịch vụ - thương mại đạt 188.989 tỷ đồng, chiếm 51,42% tổng dư nợ tín dụng, ngành công nghiệp - xây dựng đạt 32.196 tỷ đồng, chiếm 8,76% tổng dư nợ tín dụng, ngành nông lâm nghiệp đạt 146.283 tỷ đồng, chiếm 39,82% tổng dư nợ tín dụng. Nợ xấu đạt 7.898 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 2,16% trong tổng dư nợ trên địa bàn.
VI. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội
1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao
1.1. Hoạt động văn hóa
- Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Trong tháng tổ chức tuyên truyền kỷ niệm 20 năm ngày Di sản Văn hóa Việt Nam (23/11/2005 - 23/11/2025); tuyên truyền Liên hoan các câu lạc bộ Cồng chiêng tỉnh Lâm Đồng lần thứ I; tổ chức triển lãm tranh cổ động tấm lớn tuyên truyền Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và tuyên truyền các ngày lễ, các hoạt động chính trị của địa phương và đất nước.
- Hoạt động văn hóa, văn nghệ: Tổ chức Lễ hội cồng chiêng Đông Nam Á với chủ đề “Âm vang Di sản - Gắn kết tương lai” gồm chuỗi các hoạt động: Liên hoan các CLB cồng chiêng tỉnh Lâm Đồng lần thứ I năm 2025; Đêm hội “Hòa âm cồng chiêng Đông Nam Á năm 2025”; Chương trình Trình diễn thời trang thổ cẩm; Lễ hội Di sản cà phê toàn cầu năm 2025. Tổ chức trưng bày “Bó hoa lớn nhất Việt Nam” với hơn 100 loại hoa khác nhau; tổ chức Lễ hội Trà quốc tế năm 2025. Trong tháng đã thực hiện 126 buổi chiếu phim phục vụ cơ sở, trường học và 14 buổi biểu diễn nghệ thuật phục vụ các nhiệm vụ chính trị: Khai mạc, bế mạc Giải đua Xe đạp các Câu lạc bộ tỉnh Lâm Đồng mở rộng năm 2025 tại Nova World Phan Thiết; biểu diễn khai mạc, bế mạc Liên hoan các câu lạc bộ cồng chiêng tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, tại phường Đông Gia Nghĩa và biểu diễn chương trình “Chào năm mới 2026” tại 03 khu vực Trung tâm, Đông và Tây Lâm Đồng; duy trì biểu diễn doanh thu thường xuyên vào các ngày cuối tuần tại sân khấu làng chài Fishermen show (Mũi Né, Bình Thuận cũ).
- Hoạt động bảo tồn, bảo tàng:
+ Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng: Trong tháng đã đón 12.581 lượt khách (Nhà trưng bày chính: 1.877 lượt; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 1.116 lượt; Di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên: 191 lượt; Cơ sở 1 (Đông Lâm Đồng) đón 9.047 lượt; Cơ sở 2 (Tây Lâm Đồng) đón 350 lượt khách tham quan.
+ Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận: Tổ chức phục vụ 90 đoàn với 3.755 lượt người, trong đó có 21 khách nước ngoài. Phục vụ 09 lễ viếng, 01 lễ kết nạp Đảng. Tổ chức thực hiện 01 chương trình phát thanh “Về nguồn - Hành trình tri ân người thầy vĩ đại của dân tộc” và 01 phóng sự “Trường Dục Thanh - Điểm đến về nguồn”. Tham gia Triển lãm chuyên đề “Nơi này Bác đã đi qua -Trường Dục Thanh Phan Thiết” tại Di tích Quốc gia Đặc biệt mộ cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, tỉnh Đồng Tháp.
+ Ban Quản lý Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận (cũ): Tiếp đón 06 đoàn khách với 967 lượt khách đến thăm viếng, tham quan, học tập, nghiên cứu, trải nghiệm.
- Hoạt động Thư viện: Đã cấp 170 thẻ bạn đọc (63 thẻ thiếu nhi); phục vụ 237.871 lượt bạn đọc; luân chuyển 48.218 lượt tài liệu; bổ sung 324 bản sách từ nguồn biếu, tặng; xử lý kỹ thuật 600 bản sách; số hóa 75.700 trang/7 tài liệu sách tham khảo, 20 Địa chí Lâm Đồng. Trưng bày 500 bản sách nhân các ngày kỷ niệm. Cập nhật 184 tin bài lên trang website; chia sẻ bài lên mạng xã hội 289 lượt/33 bài; sưu tầm 110 tin bài về Lâm Đồng; giới thiệu 205 bản sách; phát hành 1 tập “Thông tin tư liệu Lâm Đồng - khu vực Đông Lâm Đồng” tháng 11 năm 2025 gồm 110 tin bài và tổ chức các hoạt động: Tuần lễ sáng tạo “Vẽ bìa sách yêu thích”; “Đọc sách cùng bé”.
1.2. Hoạt động thể thao
- Thể dục thể thao quần chúng: Trong tháng tổ chức Giải Aerobic vô địch các Câu lạc bộ tỉnh Lâm Đồng năm 2025; Giải Võ thuật Cổ truyền Vô địch tỉnh Lâm Đồng năm 2025; Giải Cờ vua học sinh tỉnh Lâm Đồng năm 2025 và Giải đua Xe đạp vô địch các Câu lạc bộ tỉnh Lâm Đồng mở rộng năm 2025 - Vòng quanh Hồ Xuân Hương.
- Thể thao thành tích cao: Cử đoàn vận động viên tham gia các giải thể thao quốc gia, quốc tế; kết quả đạt 13 huy chương (02 HCV, 03 HCB, 08 HCĐ), trong đó có 03 huy chương quốc tế (01 HCB, 02 HCĐ). Tổng thành tích từ đầu năm đến thời điểm ngày 14/12/2025: Đạt 757 huy chương (191 HCV, 206 HCB, 360 HCĐ); trong đó đạt 47 huy chương quốc tế (14 HCV, 19 HCB, 14 HCĐ).
2. Giáo dục và đào tạo
Trong tháng tập trung tăng cường đảm bảo an toàn trường học, chủ động ứng phó, thống kê và khắc phục thiệt hại do mưa lũ, hỗ trợ học sinh, nhà giáo và cơ sở giáo dục bị ảnh hưởng trên địa bàn tỉnh; đồng thời tiếp tục đảm bảo ổn định nề nếp dạy học, chú trọng bồi dưỡng, tập huấn nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên, đẩy mạnh chuyển đổi số và kiểm định chất lượng giáo dục.
Năm học 2025-2026, toàn tỉnh có 1.603 trường học và cơ sở giáo dục (giảm 02 trường so với năm học trước do sáp nhập 02 trường tiểu học và 02 trường mầm non ở xã Krông Nô) với 818.588 học sinh; trong đó: Giáo dục mầm non có 526 trường với 151.943 trẻ; cấp tiểu học có 564 trường với 321.257 học sinh; cấp trung học cơ sở có 365 trường với 240.603 học sinh và cấp trung học phổ thông có 122 trường với 104.785 học sinh.
Trong năm học 2025-2026, nhu cầu giáo viên cho các cấp học là 42.892 giáo viên; tuy nhiên, số giáo viên hiện có 37.459 giáo viên, còn thiếu 5.433 giáo viên, trong đó: Cấp Tiểu học thiếu 1.463 giáo viên, THCS thiếu 1.453 giáo viên, THPT thiếu 495 giáo viên, chủ yếu ở các môn Âm nhạc, Mỹ thuật, Tin học, Ngoại ngữ.
Giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên: Hiện nay toàn tỉnh có 06 trường cao đẳng, 05 trường trung cấp (trong đó có 01 trường trung cấp công lập, 04 trường trung cấp tư thục) và 21 trung tâm giáo dục nghề nghiệp-giáo dục thường xuyên thực hiện chức năng đào tạo nghề nghiệp trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng và chức năng giáo dục thường xuyên; ngoài ra toàn tỉnh có 55 trung tâm giáo dục nghề nghiệp tư thục và doanh nghiệp, cơ sở khác đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp.
3. Y tế
- Bệnh sốt xuất huyết: Trong tháng phát hiện 826 ca mắc sốt xuất huyết mới, giảm 522 ca so với tháng trước và giảm 8.141 ca so với cùng kỳ năm trước; không có trường hợp tử vong. Lũy kế năm 2025, toàn tỉnh có 7.534 ca mắc, 03 ca tử vong. Trong tháng có 90 ổ dịch được phát hiện xử lý, lũy kế năm 2025 đã xử lý 1.127 ổ dịch.
- Bệnh sốt rét: Trong tháng không xảy ra; lũy kế năm 2025, toàn tỉnh có 07 ca mắc bệnh sốt rét.
- Bệnh tay chân miệng: Trong tháng phát hiện 256 ca mắc, giảm 138 ca so với tháng trước và tăng 186 ca so với cùng kỳ năm trước; lũy kế năm 2025 toàn tỉnh ước có 2.794 ca mắc. Trong tháng phát hiện 04 ổ dịch mới (xã Đạ Huoai: 2; xã Hào Bắc: 01; xã Gia Hiệp: 01), lũy kế năm 2025 đã phát hiện 21 ổ dịch bệnh tay chân miệng.
- Bệnh sởi: Trong tháng phát hiện 14 ca mắc, tăng 04 ca so với tháng trước, giảm 596 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế năm 2025, toàn tỉnh ước có 4.075 ca mắc, không có tử vong.
- Tiêm chủng mở rộng: Trong tháng, tiêm chủng đầy đủ cho 3.783 trẻ dưới 1 tuổi; lũy kế năm 2025 ước tiêm cho 47.170 trẻ. Tiêm viêm gan B sơ sinh trước 24h sau sinh cho 4.991 trẻ, lũy kế 12 tháng ước tiêm cho 44.692 trẻ. Tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DPT) mũi 4 cho 3.540 trẻ, lũy kế năm 2025 ước tiêm cho 45.627 trẻ. Tiêm viêm não Nhật Bản mũi 1 cho 3.343 trẻ, lũy kế năm 2025 ước tiêm cho 46.957 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 2 cho 3.544 trẻ, lũy kế 46.381 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 3 cho 4.094 trẻ, lũy kế năm 2025 ước tiêm cho 42.708 trẻ. Tiêm phòng uốn ván cho phụ nữ có thai cho 3.690 người, lũy kế năm 2025 ước tiêm cho 43.085 người.
- Công tác phòng chống Phong: Duy trì tốt công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chí của Bộ Y tế. Toàn tỉnh còn quản lý 463 bệnh nhân, không còn bệnh nhân đang điều trị; số bệnh nhân đang giám sát là 20 bệnh nhân; chăm sóc tàn tật cho 451 bệnh nhân.
- Công tác phòng chống Lao: Bệnh nhân lao các thể trong tháng 11/2025 là 6 bệnh nhân/100.000 dân, lũy kế 11 tháng năm 2025 là 63 người/100.000 dân. Bệnh nhân Lao phổi có bằng chứng vi khuẩn học mới (AFB (+) và MTB) trong tháng là 04 bệnh nhân/100.000 dân, lũy kế 11 tháng là 36 bệnh nhân/100.000 dân. Bệnh nhân Lao kháng thuốc trong tháng 11/2025 là 03 bệnh nhân, lũy kế 11 tháng năm 2025 là 57 bệnh nhân.
- Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng phát hiện 12 bệnh nhân nhiễm HIV mới, có 04 bệnh nhân tử vong do AIDS. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 4.729 bệnh nhân mắc HIV, chuyển AIDS 1.777 bệnh nhân và có 883 bệnh nhân tử vong do AIDS.
- Công tác khám chữa bệnh: Trong tháng đã tổ chức khám bệnh cho 523.944 lượt bệnh nhân, số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 41.677 người, số ngày điều trị nội trú là 236.932 ngày, xét nghiệm cho 752.221 tiêu bản, chẩn đoán 128.897 hình ảnh, phẫu thuật 4.744 trường hợp. Lũy kế năm 2025 đã tổ chức khám bệnh cho 5.747.286 lượt người; 463.480 lượt bệnh nhân điều trị nội trú với 3.060.269 ngày; số ngày điều trị nội trú trung bình/bệnh nhân 5,69 ngày; công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 88%; đã xét nghiệm cho 8.994.624 tiêu bản; chẩn đoán 1.607.295 hình ảnh và phẫu thuật cho 60.017 trường hợp.
- Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm: Trong tháng, tỉnh đã triển khai 68 đoàn kiểm tra an toàn thực phẩm tại 1.230 cơ sở, kết quả có 01 cơ sở vi phạm bị xử phạt với số tiền 4,0 triệu đồng. Lũy kế năm 2025, tỉnh đã thành lập 830 đoàn kiểm tra tại 17.105 cơ sở, kết quả có 146 cơ sở vi phạm bị xử phạt với tổng số tiền 905,27 triệu đồng.
Trong tháng xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm tại phường Phan Thiết, làm 96 người nhập viện (do ăn bánh mì thịt nguội). Lũy kế năm 2025, toàn tỉnh xảy ra 05 vụ ngộ độc thực phẩm làm 205 người mắc, có 01 trường hợp tử vong do ăn cá nóc.
4. Thông tin, báo chí, xuất bản
- Báo chí và truyền thông: Thực hiện tốt công tác truyền thông các sự kiện, hoạt động của Trung ương và địa phương như: Lễ hội Cồng chiêng Đông Nam Á năm 2025; Chương trình Chào năm mới 2026 tại 3 khu vực; Lễ hội Trà quốc tế năm 2025. Tiếp tục đẩy mạnh truyền thông trên các nền tảng số; thường xuyên rà soát thông tin trên báo chí, các trang mạng xã hội viết về tỉnh Lâm Đồng (từ ngày 15/11-15/12, qua rà soát trên hệ thống phần mềm giám sát thông tin mạng xã hội có 39.941 tin, bài viết; trong đó có 35.961 tin, bài có từ khóa đề cập đến Lâm Đồng; tin, bài tích cực tỷ lệ 75,2%; tin, bài tiêu cực tỷ lệ khoảng 24,8%; qua đánh giá, không có thông tin tiêu cực nào đến mức độ sai phạm phải đề xuất cơ quan chức năng xử lý.
- Thông tin cơ sở và thông tin đối ngoại: Triển khai tốt công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách mới, các hoạt động, sự kiện quan trọng của tỉnh. Công tác tuyên truyền, quảng bá hình ảnh tỉnh Lâm Đồng được tăng cường với nhiều hình thức, tận dụng hiệu quả các nền tảng truyền thông đa phương tiện; phản ánh kịp thời, toàn diện các hoạt động đối nội, đối ngoại; các vấn đề, sự kiện nổi bật của tỉnh, trong nước và quốc tế.
- Xuất bản, in và phát hành: Thực hiện tốt hoạt động quản lý Nhà nước về xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm trên địa bàn tỉnh. Trong tháng đã cấp 13 giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh; cấp đổi 01 Giấy phép hoạt động in; cấp 01 Giấy xác nhận đăng ký thông tin hoạt động cơ sở in.
5. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
Trong năm 2025, hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trên địa bàn tỉnh được triển khai đồng bộ, đạt nhiều kết quả tích cực. Toàn tỉnh quản lý, triển khai 87 nhiệm vụ khoa học - công nghệ các cấp (9 nhiệm vụ cấp quốc gia, 47 nhiệm vụ cấp tỉnh, 13 nhiệm vụ cấp cơ sở và 18 nhiệm vụ mở mới), tổ chức nghiệm thu 24 nhiệm vụ; tổng hợp 110 đề xuất nhiệm vụ khoa học - công nghệ giai đoạn tiếp theo. Công tác hỗ trợ doanh nghiệp được đẩy mạnh, đến cuối năm có 14 doanh nghiệp khoa học - công nghệ; khảo sát, đánh giá trình độ công nghệ cho 54 doanh nghiệp; hỗ trợ sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn chất lượng và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.
Hệ sinh thái khởi nghiệp tiếp tục phát triển với việc tổ chức Techfest Lâm Đồng 2025, thu hút trên 280 đại biểu, hơn 100 gian hàng, kết nối cung - cầu công nghệ cho 8 tổ chức, doanh nghiệp; Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII) xếp hạng 19/34 tỉnh, thành phố. Công tác tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng được tăng cường, kiểm tra 191 cơ sở sản xuất, kinh doanh; kiểm nghiệm khoảng 10 nghìn mẫu sản phẩm, 49.160 phương tiện đo; tỷ lệ mẫu đạt chất lượng 61/63.
Hạ tầng bưu chính, viễn thông và chuyển đổi số tiếp tục được đầu tư, mở rộng: toàn tỉnh có hơn 4 triệu thuê bao di động, trong đó 87,7% là thuê bao thông minh; 4,4 triệu thuê bao Internet; 99% hộ gia đình sử dụng cáp quang; 11.500 trạm BTS, trong đó có 832 trạm 5G; doanh thu bưu chính năm 2025 ước đạt 750 tỷ đồng. Công tác chuyển đổi số được đẩy mạnh với việc triển khai hệ thống dùng chung, chữ ký số (11.453 chứng thư), nền tảng tích hợp dữ liệu LGSP kết nối 22 hệ thống và hơn 400 nghì lượt giao dịch dữ liệu, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
6. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và người có công
6.1. Chính sách dân tộc
Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và đời sống đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ổn định. Kinh tế vùng DTTS của tỉnh đa dạng và đạt được nhiều thành tựu nổi bật; nông nghiệp vẫn giữ vai trò chủ lực phát triển theo hướng nông nghiệp công nghệ cao; phát triển trồng rừng, khai thác và chế biến lâm sản mang lại hiệu quả tích cực; khu vực ven biển hình thành các vùng sản xuất chuyên canh kết hợp chăn nuôi gia súc và phát triển du lịch sinh thái biển; nhiều xã đồng bào DTTS đã đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó có xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, đời sống người dân vùng đồng bào DTTS ngày càng cải thiện.
Trong năm, các lễ hội truyền thống của đồng bào như lễ hội Katê của người Chăm, lễ mừng lúa mới của người Cơ Ho, lễ cúng bến nước của người M’nông, lễ hội của người Chu Ru, Mạ được duy trì và phục dựng. Nghề gốm Chăm đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện nhân loại. Phong trào văn hóa - văn nghệ, thể dục - thể thao phát triển sâu rộng, trên 90% xã, thôn có nhà văn hóa, thiết chế thể thao. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được triển khai đồng bộ gắn với xây dựng nông thôn mới. Hệ thống thông tin, truyền thông được mở rộng, 100% xã có sóng phát thanh, truyền hình, internet, nhiều chương trình bằng tiếng dân tộc đáp ứng nhu cầu thông tin của đồng bào.
Chính sách giáo dục triển khai có hiệu quả. Hệ thống trường lớp vùng DTTS không ngừng được mở rộng, đa dạng về loại hình và từng bước nâng cao chất lượng. Toàn tỉnh đã xây dựng hệ thống giáo dục dân tộc chuyên biệt với các trường phổ thông dân tộc nội trú và nhiều trường phổ thông dân tộc bán trú tại các địa bàn khó khăn. Mạng lưới trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở được phân bổ tương đối hợp lý, bảo đảm hầu hết trẻ em DTTS đều được đến trường. Chính sách ưu tiên đối với học sinh, sinh viên DTTS được thực hiện có hiệu quả, học sinh được miễn giảm học phí, cấp học bổng, hỗ trợ gạo, tiền ăn, tiền ở bán trú và nội trú, vì vậy tỷ lệ bỏ học đã giảm rõ rệt, đặc biệt ở các cấp tiểu học và trung học cơ sở. Mô hình thí điểm việc dạy tiếng dân tộc trong nhà trường như tiếng Chăm, tiếng Ê Đê, tiếng M’nông, tiếng Cơ Ho được triển khai, qua đó góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa các dân tộc. Nhìn chung, chất lượng giáo dục vùng DTTS của tỉnh có nhiều tiến bộ, hệ thống trường lớp được mở rộng, tỷ lệ học sinh đến lớp tăng, chất lượng giáo dục nâng lên, qua đó góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.
Hệ thống y tế cơ bản đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe người dân; hiện nay 100% xã đã có trạm y tế, trong đó phần lớn đạt chuẩn quốc gia về y tế; tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt khoảng 93-94%, trong đó phần lớn là đồng bào DTTS nhờ chính sách hỗ trợ của Nhà nước; công tác đào tạo nhân lực y tế là người DTTS được chú trọng nhằm đáp ứng và nâng cao hiệu quả công tác chăm sóc sức khỏe người dân.
6.2. Chính sách tôn giáo
Trên địa bàn tỉnh có 24 tổ chức tôn giáo được nhà nước công nhận đang hoạt động, gồm: Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Giáo hội Công giáo Việt Nam, 10 hệ phái Tin Lành; 05 tổ chức Cao Đài; Giáo hội Cơ Đốc Phục Lâm Việt Nam; Giáo hội Phật Đường Nam Tông Minh Sư đạo; Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo; Cộng đồng Tôn giáo Baha’i Việt Nam, Hồi giáo Bàni, Bàlamôn giáo, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam và 33 tổ chức Tin Lành chưa được nhà nước cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo. Tổng số có khoảng 1.571.000 tín đồ, 3.531 chức sắc, 6.700 chức việc; 1.289 cơ sở tôn giáo hợp pháp; 04 cơ sở đào tạo tôn giáo; 721 tổ chức tôn giáo trực thuộc và 619 điểm sinh hoạt tôn giáo tập trung.
Trong năm 2025, tình hình hoạt động tín ngưỡng trên địa bàn tỉnh ổn định và tuân thủ pháp luật, đảm bảo theo đúng hiến chương, điều lệ, tôn chỉ, mục đích và phương châm hành đạo. Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh tổ chức lễ Phật đản, An cư kiết hạ và lễ Vu lan năm 2025; giải quyết các nhu cầu tôn giáo đảm bảo đúng quy định của pháp luật như: Chấp thuận thành lập 138 tổ chức tôn giáo trực thuộc; các tổ chức tôn giáo mời 21 đoàn người nước ngoài vào hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh; chấp thuận việc các tổ chức tôn giáo bổ nhiệm 266 chức việc; mở 34 lớp bồi dưỡng người chuyên hoạt động tôn giáo; xác nhận thông báo phong phẩm 137 chức sắc; xác nhận tiếp nhận thông báo kết quả bổ nhiệm 114 trường hợp; xác nhận thuyên chuyển chức sắc 156 trường hợp; tiếp nhận thông báo cách chức, bãi nhiệm 09 trường hợp; xác nhận danh mục hoạt động tôn giáo bổ sung 25 trường hợp... Nhìn chung, hoạt động các tổ chức tôn giáo trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường, ổn định; các chính sách về tôn giáo được triển khai bình đẵng, có hiệu quả nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, đồng thời duy trì ổn định chính trị, xã hội trên địa bàn tỉnh.
6.3. Chính sách người có công
Trong tháng đã giải quyết 364 hồ sơ về chế độ chính sách cho người có công, trong đó: Tiếp nhận 14 hồ sơ chuyển đến, 11 hồ sơ chuyển đi; lập thủ tục chuyển Hội đồng GĐYK 10 hồ sơ; trả lời 7 đơn thư; ban hành 51 Quyết định hưởng trợ cấp thờ cúng liệt sĩ; 170 Quyết định trợ cấp mai táng phí đối với thân nhân của người có công với cách mạng từ trần; đề nghị cấp lại bằng Tổ quốc ghi công cho 61 liệt sĩ; giải quyết 13 hồ sơ đính chính thông tin người có công; thực hiện báo tin mộ cho 02 thân nhân liệt sĩ… Công tác chi trả trợ cấp không dùng tiền mặt đối với người có công với cách mạng và thân nhân được thực hiện đầy đủ, đã chi trả qua tài khoản 13.109/19.288 đối tượng với tổng số tiền 42.880.948.982 đồng.
7. Hoạt động bảo hiểm
Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN cho đối tượng thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia và thụ hưởng. Tính đến ngày 30/11/2025, toàn tỉnh có 286.197 người tham gia BHXH, tăng 0,73% so với tháng trước và tăng 3,28% so với cùng kỳ năm trước (trong đó: 242.976 người tham gia BHXH bắt buộc, tăng 1,85% so với cùng kỳ năm trước; 43.221 người tham gia BHXH tự nguyện, tăng 12,07% so với cùng kỳ năm trước); có 219.939 người tham gia BHTN, tăng 1,83% so với cùng kỳ năm trước; số người tham gia BHYT là 2.907.080 người, tăng 0,47% so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ dân số tham gia BHYT chung toàn tỉnh đạt 93,02%.
Trong tháng, đã giải quyết mới 8.547 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề cho 1.806 người; lũy kế đến ngày 30/11/2025, đã giải quyết mới 109.276 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả cho 21.265 người hưởng chế độ BHTN (trong đó: Lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng là 4.270 người; trợ cấp 1 lần là 28.611 người; chế độ ốm đau là 59.414 người; chế độ thai sản là 13.143 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe là 3.838 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng là 19.148 người; hỗ trợ học nghề là 2.117 người). Tiếp nhận, giải quyết nghỉ hưu trước tuổi theo Nghị định số 177 và 178 là 82 người (lũy kế: 2.143 người).
8. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/11/2025-15/12/2025)
Trong tháng xảy ra 74 vụ tai nạn giao thông, tăng 17 vụ so với tháng trước và giảm 43 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết là 35 người, tăng 12 người so với tháng trước và giảm 10 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 57 người, tăng 14 người so với tháng trước và giảm 34 người so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 15/12/2025, toàn tỉnh đã xảy ra 873 vụ tai nạn giao thông, giảm 360 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết là 426 người, giảm 37 người; số người bị thương là 675 người, giảm 349 người so với cùng kỳ năm trước.
9. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường
- Thiên tai: Từ ngày 27/11/2025 đến 18/12/2025 trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng đã xảy ra 02 vụ lũ quét. Thiên tai đã làm 02 người chết và 02 người bị thương; 8.359 căn nhà bị ngập; 1.795 ha lúa, 2.303 ha hoa màu bị thiệt hại và 1.113 ha cây lâu năm bị ảnh hưởng; 582 con gia súc và 23.412 con gia cầm chết, cuốn trôi,.... Ước tổng thiệt hại 281.171 triệu đồng. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 18/12/2025, trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng xảy ra 38 vụ thiên tai do mưa lớn kèm dông, lốc, sét, gió giật mạnh, lũ quét làm 17 người chết, 21 người bị thương; ước tổng giá trị thiệt hại khoảng 1.840,6 tỷ đồng. Đến nay tỉnh đã hoàn thành hỗ trợ khắc phục thiệt hại về nhà và sản xuất, qua đó giúp người dân dần ổn định cuộc sống; bên cạnh đó, hệ thống hạ tầng giao thông thiết yếu, các tuyến đường huyết mạch trên địa bàn tỉnh (Quốc lộ 28, Quốc lộ 20, Đường tỉnh 725…) đã kịp thời sửa chữa, khôi phục, hiện nay đã cơ bản đáp ứng nhu cầu vận chuyển và đi lại của người dân.
- Cháy, nổ: Trong tháng xảy ra 11 vụ cháy, nổ, không có thiệt hại về người. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 15/12/2025 xảy ra 61 vụ cháy, nổ làm chết 01 người và 02 người bị thương; so với cùng kỳ năm trước giảm 18 vụ, số người chết giảm 4 người và số người bị thương giảm 03 người.
- Vi phạm môi trường: Trong tháng không xảy ra, giảm 01 vụ so với tháng trước và giảm 03 vụ so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 19/12/2025 xảy ra 20 vụ vi phạm, giảm 38 vụ so với cùng kỳ năm trước; đã xử phạt 3,663 tỷ đồng.
* Đánh giá chung
Nhìn chung, năm 2025 diễn ra trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới tiếp tục tiềm ẩn nhiều yếu tố bất ổn; tăng trưởng toàn cầu phục hồi chậm, lạm phát dù đã hạ nhiệt nhưng vẫn duy trì ở mức cao tại một số nền kinh tế lớn; giá năng lượng, nguyên vật liệu và chi phí vận chuyển biến động khó lường; căng thẳng địa chính trị, xung đột khu vực và rủi ro về chuỗi cung ứng tiếp tục tác động đến hoạt động sản xuất, thương mại và đầu tư. Trong nước, cùng với những khó khăn chung của nền kinh tế, tỉnh triển khai thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong năm đầu tiên sau sáp nhập tỉnh, phát sinh nhiều vấn đề trong giai đoạn đầu như sắp xếp tổ chức bộ máy, điều chỉnh quy hoạch, phân bổ nguồn lực và thống nhất cơ chế quản lý, điều hành, ảnh hưởng nhất định đến tiến độ triển khai một số chương trình, dự án và hoạt động sản xuất, kinh doanh. Bên cạnh đó, tình hình thời tiết, thiên tai diễn biến phức tạp, mưa lớn kéo dài, lũ lụt cục bộ, sạt lở đất tại một số khu vực đã gây thiệt hại đến sản xuất nông nghiệp, hạ tầng giao thông và đời sống người dân, làm gia tăng chi phí khắc phục, phục hồi sản xuất, ảnh hưởng đến tăng trưởng chung của nền kinh tế địa phương trong một số thời điểm.
Trong bối cảnh đó, với sự chỉ đạo quyết liệt của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, sự phối hợp đồng bộ của các sở, ngành, địa phương và sự nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp, người dân, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh đã từng bước ổn định và phục hồi rõ nét trong các quý cuối năm, đạt được nhiều kết quả tích cực.
Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) ước tăng 6,42%, phản ánh xu hướng phục hồi và tăng trưởng khá trong điều kiện còn nhiều khó khăn sau sáp nhập. Quy mô nền kinh tế tiếp tục mở rộng, GRDP bình quân đầu người ước đạt 105,24 triệu đồng/người, tăng 12,7% so với năm trước. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, trong đó khu vực dịch vụ tiếp tục giữ vai trò động lực tăng trưởng chủ yếu.
Hoạt động sản xuất cây trồng duy trì ổn định, diện tích gieo trồng cây hàng năm tăng 1,43%; nhiều cây trồng chủ lực tăng khá về sản lượng như cà phê, hồ tiêu và sầu riêng. Chăn nuôi phát triển ổn định, dịch bệnh được kiểm soát, góp phần bảo đảm nguồn cung thực phẩm. Nông nghiệp công nghệ cao tiếp tục mở rộng với diện tích 107.217 ha, góp phần nâng cao giá trị gia tăng và hiệu quả sản xuất, tạo nền tảng vững chắc cho ổn định kinh tế nông thôn. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2025 tăng 16,28% so với cùng kỳ, phản ánh sự phục hồi mạnh của thị trường trong nước, hoạt động thương mại, du lịch và dịch vụ tiêu dùng sau giai đoạn ổn định tổ chức bộ máy. Sản xuất công nghiệp từng bước phục hồi nhưng còn chịu tác động của biến động giá nguyên, nhiên vật liệu và tiến độ đầu tư, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) ước tăng 4,79%. Hoạt động đầu tư tiếp tục được duy trì, tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn tăng 8,48% so với năm trước, góp phần phát triển kết cấu hạ tầng và thúc đẩy tăng trưởng, dù chưa đạt mục tiêu kế hoạch do ảnh hưởng của quá trình rà soát, điều chỉnh danh mục dự án và thủ tục đầu tư sau sáp nhập.
Công tác quản lý giá và điều hành thị trường được triển khai đồng bộ, hiệu quả; chỉ số giá tiêu dùng (CPI) năm 2025 tăng 3,56%, nằm trong phạm vi kiểm soát, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và đời sống dân cư. Thu ngân sách nhà nước đạt kết quả tích cực, tổng thu nội địa tăng 16,38% so với năm trước.
Song song với phát triển kinh tế, lĩnh vực an sinh xã hội tiếp tục được quan tâm, bảo đảm đầy đủ và kịp thời, nhất là trong bối cảnh sắp xếp tổ chức bộ máy và địa giới hành chính. Các chính sách đối với người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, hộ nghèo, cận nghèo được thực hiện đầy đủ; công tác giải quyết việc làm, đào tạo nghề, chăm lo đời sống người lao động được chú trọng. Các lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hóa – xã hội tiếp tục ổn định, góp phần củng cố niềm tin của người dân và tạo nền tảng cho phát triển bền vững trong giai đoạn tiếp theo./.
THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG
.JPG)
.JPG)
.JPG)
.JPG)
.JPG)
.JPG)
.JPG)
.JPG)
Kèm file số liệu: KTXH năm 2025.pdf
TIN TỨC CÙNG LOẠI KHÁC:
Trang:
/