Thông cáo báo chí về tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2026 tỉnh Lâm Đồng
Tháng 6, quý II và 6 tháng đầu năm 2026, trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động, chi phí đầu vào chịu áp lực tăng, tỉnh Lâm Đồng tiếp tục tập trung chỉ đạo phục hồi sản xuất, thúc đẩy đầu tư, thương mại, dịch vụ, du lịch và bảo đảm an sinh xã hội. Nhìn chung, kinh tế - xã hội duy trì đà tăng trưởng khá; quý II có chuyển biến tích cực hơn quý I, song một số lĩnh vực vẫn tăng chưa tương xứng với kịch bản điều hành, nhất là xây dựng, một số sản phẩm công nghiệp, vận tải hành khách, thu nhà đất và tiến độ chuyển hóa vốn đầu tư thành khối lượng thực hiện. Tình hình cụ thể như sau:
I. Tăng trưởng kinh tế
Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) quý II/2026 tăng trưởng tích cực, ước tăng 9,22% so với cùng kỳ năm trước; tính chung 6 tháng đầu năm 2026, GRDP tăng 7,90%. Kết quả này cho thấy đà phục hồi và phát triển của nền kinh tế tiếp tục được củng cố, trong đó cả ba khu vực kinh tế đều duy trì mức tăng khá. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 5,05%, đóng góp 1,18 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,43%, đóng góp 2,30 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 9,17%, tiếp tục là động lực tăng trưởng chủ yếu, đóng góp 4,00 điểm phần trăm.
Đối với khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, sản xuất nông nghiệp tiếp tục giữ vai trò nền tảng, duy trì tăng trưởng ổn định trong bối cảnh còn chịu tác động của thời tiết, thị trường và dịch bệnh. Giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp 6 tháng đầu năm 2026 tăng 5,15% so với cùng kỳ, đóng góp 1,00 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Ngành lâm nghiệp tăng 4,54%, tuy nhiên do chiếm tỷ trọng thấp nên đóng góp 0,03 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 4,49%, đóng góp 0,14 điểm phần trăm.
Khu vực công nghiệp và xây dựng đạt mức tăng khá, trong đó công nghiệp tiếp tục là một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng. Giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp 6 tháng đầu năm 2026 tăng 7,81% so với cùng kỳ, đóng góp 1,72 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế. Đáng chú ý, công nghiệp khai khoáng và công nghiệp chế biến, chế tạo tăng cao, lần lượt đạt 17,67% và 16,76%, đóng góp tương ứng 0,10 và 0,98 điểm phần trăm. Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 4,09%, đóng góp 0,62 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,58%, đóng góp 0,02 điểm phần trăm.
Khu vực dịch vụ tiếp tục phục hồi mạnh trong 6 tháng đầu năm 2026. Giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ tăng 9,17% so với cùng kỳ, nhờ hoạt động thương mại, vận tải, du lịch và các dịch vụ phục vụ tiêu dùng tiếp tục khởi sắc. Trong đó, ngành bán buôn và bán lẻ tăng 11,34%, đóng góp 1,21 điểm phần trăm; vận tải, kho bãi tăng 14,81%, đóng góp 0,45 điểm phần trăm; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 13,40%, đóng góp 0,93 điểm phần trăm; thông tin và truyền thông tăng 7,35%, đóng góp 0,20 điểm phần trăm. Một số ngành dịch vụ khác cũng đạt mức tăng khá góp phần củng cố xu hướng phục hồi và mở rộng của khu vực dịch vụ.
II. Nông, lâm nghiệp và thủy sản
Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục giữ vai trò ổn định của nền kinh tế. Trồng trọt duy trì nhịp tăng nhờ thời tiết cơ bản thuận lợi, nguồn nước phục vụ sản xuất được bảo đảm; chăn nuôi tăng khá, nhất là lợn và gia cầm; thủy sản khai thác và sản xuất tôm giống tiếp tục phát huy lợi thế. Tuy nhiên, khu vực này vẫn chịu sức ép từ chi phí vật tư, nhiên liệu, dịch bệnh cây trồng, vật nuôi và biến động giá một số nông sản chủ lực.
1. Trồng trọt
1.1. Cây hàng năm
- Kết quả sản xuất vụ Đông xuân: Tổng diện tích gieo trồng ước đạt 106.482 ha, tăng 0,82% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, cây lương thực ước đạt 61.950 ha, tăng 1,02% (lúa diện tích ước đạt 55.400 ha, tăng 0,16%, năng suất ước đạt 66,79 tạ/ha, tăng 0,65 tạ/ha; sản lượng ước đạt 370.000 tấn, tăng 1,14%; ngô diện tích ước đạt 6.550 ha, tăng 9,0%, năng suất ước đạt 74,81 tạ/ha, tăng 2,14 tạ/ha; sản lượng ước đạt 49.000 tấn, tăng 12,21%). Đã chuyển đổi 3.987,6 ha đất lúa kém hiệu quả sang trồng các cây ngắn ngày khác góp phần nâng hiệu quả sử dụng đất, tiết kiệm nước tưới và hạn chế sâu bệnh.
- Tiến độ sản xuất vụ hè thu: Mùa mưa đến sớm, lượng mưa phân bổ tương đối đều tạo điều kiện để nông dân xuống giống sớm. Ước đến ngày 15/6/2025 toàn tỉnh xuống giống vụ Hè thu đạt 45.501 ha, tăng 6,65% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lúa diện tích đạt 9.495 ha, tăng 3,14%; ngô diện tích đạt 8.830 ha, giảm 1,84%).

1.2. Cây lâu năm
Tổng diện tích cây lâu năm hiện có ước đạt 635.258 ha, tăng 0,54% so với cùng kỳ. Cơ cấu cây lâu năm tiếp tục dịch chuyển theo hướng nâng tỷ trọng cây có giá trị kinh tế cao như cà phê, sầu riêng, hồ tiêu, dâu tằm; trong khi một số cây hiệu quả thấp hoặc già cỗi như điều, chè tiếp tục giảm diện tích. Một số cây chủ lực có diễn biến như sau:
- Cây cà phê: Diện tích hiện có 329.488 ha, tăng 1,29% so với cùng kỳ năm trước; hiện giá cà phê đang duy trì ở mức cao nên người dân tập trung chăm sóc, tỉa cành, làm cỏ,...;
- Cây cao su: Diện tích hiện ước đạt 75.375 ha, tăng 2,94%;
- Cây điều: Diện tích ước đạt 45.715 ha, giảm 7,6%. Diện tích điều tiếp tục có xu hướng giảm so với cùng kỳ do người dân chuyển sang trồng mới các loại cây có hiệu quả kinh tế vượt trội hơn như cà phê, sầu riêng, chanh leo, dâu tằm,…;
- Cây sầu riêng: Diện tích ước đạt 44.246 ha, tăng 4,25%; sản lượng tăng cao so với cùng kỳ do diện tích cho thu hoạch tăng;
- Cây hồ tiêu: Diện tích hiện có 37.673 ha, tăng 1,31% so với cùng kỳ năm trước; hiện đã hoàn tất thu hoạch vụ tiêu năm 2025-2026, sản lượng thu hoạch ước đạt 94.193 tấn, tăng 5,65%. Giá hồ tiêu duy trì ở mức khá cao trong những tháng đầu năm 2026, đây là động lực giúp người nông dân tái đầu tư và chăm sóc vườn cây tốt hơn;
- Cây thanh long: Diện tích hiện có 25.851 ha, giảm 0,5% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thu hoạch 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 345.655 tấn, tăng 0,88%. “Đề án phát triển bền vững cây thanh long đến năm 2030” tạo định hướng rõ ràng phát triển cây thanh long theo hướng nâng cao chất lượng sản phẩm. Thanh long Lâm Đồng đã được Liên minh châu Âu EU bảo hộ chỉ dẫn địa lý và thương hiệu được bảo hộ tại nhiều quốc gia, xu hướng tiêu dùng nông sản sạch, truy xuất nguồn gốc tiếp tục mở ra cơ hội xuất khẩu;
- Cây chè: Diện tích hiện ước đạt 48.331 tấn, giảm 4,02%. Diện tích chè giảm do người dân chuyển đổi một số diện tích chè già cỗi, sản xuất theo truyền thống trước đây hiệu quả kinh tế thấp sang cây cà phê, sầu riêng, chanh leo,...;
- Cây dâu tằm: Diện tích hiện ước đạt 147.790 tấn, tăng 4,46%. Những năm gần đây việc chuyển đổi giống cho năng suất cao, ít sâu bệnh như VA-201, S7-CB, TPL 03 và TPL 05 phù hợp điều kiện thổ nhưỡng, năng suất cao và khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, bên cạnh đó giá kén tằm ổn định người dân tích cực đầu tư chăm bón, mở rộng diện tích.
2. Chăn nuôi
Chăn nuôi tiếp tục là điểm sáng của khu vực nông nghiệp. Tổng đàn gia súc, gia cầm tăng so với cùng kỳ, nguồn cung thịt, trứng, sữa cơ bản bảo đảm cho thị trường. Sản lượng thịt hơi các loại tháng 6 ước đạt 23.525,1 tấn, tăng 11,96%; quý II đạt 92.044,9 tấn, tăng 9,54%; lũy kế 6 tháng đạt 185.269 tấn, tăng 9,69%. Kết quả này chủ yếu nhờ chăn nuôi trang trại, liên kết với doanh nghiệp và công tác phòng, chống dịch bệnh được chú trọng.
- Đàn trâu: Tổng đàn hiện có 26,5 nghìn con, tăng 0,28% so với cùng kỳ. Quy mô đàn trâu tương đối ổn định nhờ người dân tận dụng các vùng chăn thả và nguồn phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn. Tuy nhiên, tốc độ tăng đàn còn chậm do hiệu quả kinh tế chưa cao, thời gian sinh trưởng dài và diện tích đồng cỏ tự nhiên ngày càng thu hẹp.
- Đàn bò: Tổng đàn hiện có 319,4 nghìn con, tăng 2,87% so với cùng kỳ (trong đó đàn bò sữa 31,0 nghìn con, tăng 0,58%). Quy mô đàn bò tiếp tục tăng nhờ công tác cải tạo giống, mở rộng diện tích đồng cỏ, tận dụng nguồn phụ phẩm nông nghiệp và duy trì các chuỗi liên kết tiêu thụ sản phẩm, đặc biệt đối với chăn nuôi bò sữa.
- Đàn lợn: Tổng đàn hiện có 1.541,5 nghìn con, tăng 5,43% so với cùng kỳ (không bao gồm lợn con chưa tách mẹ có 1.259,4 nghìn con, tăng 5,48%). Quy mô đàn lợn tăng khá nhờ chăn nuôi trang trại phát triển, các mô hình liên kết sản xuất với doanh nghiệp tiếp tục được mở rộng, công tác phòng chống dịch bệnh được tăng cường và giá lợn hơi duy trì ở mức có lợi cho người chăn nuôi. Bên cạnh đó, nhu cầu tiêu thụ lợn thịt của các doanh nghiệp chế biến, cơ sở giết mổ và thị trường trong nước tăng, tạo đầu ra ổn định cho sản phẩm chăn nuôi. Trước triển vọng thị trường thuận lợi, nhiều doanh nghiệp và trang trại đã chủ động tăng quy mô đàn, tái đàn và đầu tư mở rộng sản xuất, góp phần thúc đẩy tổng đàn lợn trên địa bàn tỉnh tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm trước (Công ty TNHH Việt Hoàng T&T tăng từ 7,07 nghìn con lên 23 nghìn con; Công ty TNHH Bách Minh tăng từ 4,1 nghìn con lên 6,57 nghìn con; Công ty TNHH Khang Thọ, Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam - Chi nhánh Lâm Đồng, Công ty Chăn nuôi Duy Ngọc Đạ Huoai đều có quy mô đàn tăng từ 0,5 đến dưới 2,0 nghìn con so với cùng kỳ năm trước).
- Đàn gia cầm: Tổng đàn hiện có 23.600 nghìn con, tăng 8,69% so với cùng kỳ (trong đó gà các loại 16.337 nghìn con, chiếm 69,22% trong tổng đàn gia cầm, tăng 8,46%). Quy mô đàn gia cầm tăng nhờ nhu cầu tiêu thụ thịt và trứng ổn định, thời gian quay vòng vốn nhanh, khả năng thích ứng linh hoạt với thị trường, cùng với việc áp dụng các biện pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi.

3. Sản xuất lâm nghiệp
Trong 6 tháng đầu năm 2026 diện tích trồng rừng ước đạt 4.226 ha, tăng 5,2%; diện tích trồng cây phân tán ước đạt 5,6 triệu cây, tăng 3,36% so với cùng kỳ; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 233.289 m3, tăng 3,89%; sản lượng củi khai thác đạt 180.081 ste, tăng 1,98%.
Tổng số vụ vi phạm lâm luật trong 6 tháng đầu năm 2026 (tính đến ngày 10/6/2026) là 300 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 136 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 22,7 ha); so với cùng kỳ, số vụ vi phạm tăng 42 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật tăng 34 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 5,9 ha).
Công tác phòng, chống cháy rừng: Trong 6 tháng đầu năm 2026, tỉnh đã triển khai thực hiện công tác phòng cháy, chữa cháy rừng mùa khô năm 2026, tập trung theo dõi và thông báo kịp thời cấp dự báo cháy rừng trên địa bàn các xã, phường; cập nhật kịp thời thông tin dự báo, cảnh báo nguy cơ cháy rừng để kiểm tra, xác minh và xử lý; rà soát, xác định các khu vực trọng điểm có nguy cơ cháy rừng cao trên địa bàn; tổ chức trực và canh gác tại các khu rừng có nguy cơ cháy rừng cao khi dự báo cháy rừng cấp III, IV, V. Trong 6 tháng đầu năm 2026, đã xảy ra 08 vụ cháy rừng, gây thiệt hại 2,9 ha rừng; so với cùng kỳ, số vụ cháy rừng tăng 03 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 1,7 ha..
4. Thủy sản
- Nuôi trồng thủy sản: Diện tích nuôi trồng 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 2.873,4 ha, tăng 1,43% (trong đó diện tích nuôi cá đạt 2.581,6 ha, tăng 1,25%; diện tích nuôi tôm đạt 269,1 ha, tăng 3,46%). Sản lượng nuôi trồng 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 13.890 tấn, tăng 0,45% (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 2.311,2 tấn, tăng 4,95%)
- Khai thác thủy sản: Những tháng đầu năm, tình hình thời tiết và ngư trường tương đối thuận lợi, tàu thuyền bám biển hoạt động khai thác ổn định; nguồn lợi cá cơm, cá nục xuất hiện khá dày tạo điều kiện cho một số nghề như lưới kéo, vây rút chì, lưới rê, mành. Ngư trường khai thác chủ yếu tập trung tại vùng lộng trong tỉnh, khu vực phía nam đảo Phú Quý, đảo Côn Sơn, quần đảo Trường Sa, nhà giàn DK-1. Sản lượng khai thác thủy sản trong 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 120.113,5 tấn, tăng 3,29% (sản lượng khai thác biển đạt 119.700,2 tấn, tăng 3,19%).
Sản xuất giống thủy sản: Trong 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 13,2 tỷ post, tăng 10,01%.

5. Công tác ứng dụng khoa học công nghệ, khuyến nông vào sản xuất
Trong 6 tháng đầu năm 2026, công tác đào tạo, tập huấn chuyển giao khoa học công nghệ, khuyến nông tiếp tục được đẩy mạnh và mang lại hiệu quả tích cực; Công tác thông tin tuyên truyền khuyến nông tiếp tục được quan tâm thực hiện thường xuyên. Sản xuất an toàn bền vững tiếp tục được quan tâm đẩy mạnh; diện tích sản xuất được chứng nhận an toàn bền vững ngày càng được mở rộng; đến nay, toàn tỉnh hiện có trên 154.375 ha được chứng nhận sản xuất an toàn bền vững (trong đó, diện tích VietGAP, GlobalGAP đạt 23.800 ha, diện tích hữu cơ đạt 4.075 ha, diện tích cà phê chứng nhận 4C, UTZ/Rainforest… đạt 126.500 ha).
6. Chương trình xây dựng nông thôn mới
Trong 6 tháng đầu năm 2026, tập trung triển khai các Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030. Toàn tỉnh hiện có 08 Liên hiệp HTX nông nghiệp đang hoạt động theo Luật HTX năm 2023 với 45 HTX thành viên và 959 HTX nông nghiệp với 19.582 thành viên (trong đó 166 HTX ngừng hoạt động); có 1.290 Tổ hợp tác (các Tổ hợp tác hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi) và 1.448 trang trại (trong đó, có 1.410 trang trại đang hoạt động, 38 trang trại ngừng hoạt động).
Hoạt động liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm được đẩy mạnh với 428 chuỗi liên kết, thu hút 47.590 hộ tham gia; diện tích liên kết trong trồng trọt đạt khoảng 85 nghìn ha, sản lượng khoảng 920 nghìn tấn/năm; tổng đàn vật nuôi đạt 2.230 nghìn con, sản lượng khoảng 210 nghìn tấn/năm. Chương trình OCOP tiếp tục được triển khai hiệu quả với 936 sản phẩm còn hạn chứng nhận, trong đó có 88 sản phẩm 4 sao và 848 sản phẩm 3 sao, với 526 chủ thể tham gia.
III. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển
1. Công nghiệp
Sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh ước tháng 6, quý II và 6 tháng đầu năm 2026 duy trì đà tăng trưởng khá. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng toàn ngành, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế địa phương. Nhiều nhóm sản phẩm chủ lực đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước, thể hiện sự phục hồi và phát triển tích cực của ngành công nghiệp tỉnh.
Sáu tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 19,02%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 16,92%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 5,68%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,05%.

* Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu 6 tháng đầu năm 2026
- Sản phẩm đá xây dựng: ước đạt 2.136.985 m3, tăng 19,15% so với cùng kỳ. Tăng mạnh so với cùng kỳ do các doanh nghiệp chủ động nguồn nguyên vật liệu để phục vụ các công trình xây dựng trong điều kiện tỉnh đang chỉ đạo tập trung giải ngân vốn đầu tư công cũng như các hạng mục công trình xây dựng khác đang đầu tư tại tỉnh.
- Các sản phẩm từ thuỷ sản được chế biến, bảo quản: ước đạt 12.183 tấn, tăng 19,12% so với cùng kỳ. Các doanh nghiệp tập trung sản xuất khi mùa khai thác thủy hải sản đang thuận lợi, chủ động nguồn hàng cho các tháng tiếp theo.
- Sản phẩm rau, quả qua chế biến, bảo quản: ước đạt 21.431 tấn, tăng 15,38% so với cùng kỳ, một số doanh nghiệp đã đưa được sản phẩm vào siêu thị và mở rộng quy mô sản xuất phục vụ đơn đặt hàng tăng mới xuất khẩu qua một số nước trong khu vực ASEAN.
- Đồ uống các loại: ước đạt 124.131 nghìn lít, tăng 16,80% so với cùng kỳ, các sản phẩm rượu vang đang có xu hướng tiêu dùng ngày càng cao.
- Sản phẩm giày, dép: ước đạt 3.799 nghìn đôi, tăng 29,21% so với cùng kỳ, nguyên nhân là do doanh nghiệp nhận thêm đơn hàng ngay từ các tháng đầu năm và đến nay vẫn duy trì tốc độ tăng đáng kể.
- Sản phẩm phân bón: ước đạt 65.614 tấn, tăng 20,65% so với cùng kỳ nguyên nhân do các doanh nghiệp đã chủ động nguồn hàng để chuẩn bị cho mùa vụ 2026.
- Sản phẩm Ôxit nhôm: ước đạt 789,9 nghìn tấn tăng 2,53% so với cùng kỳ.
- Sản phẩm điện sản xuất: ước đạt 18.079 triệu kwh, tăng 5,26% so với cùng kỳ.
- Sản phẩm điện thương phẩm: ước đạt 3.016 triệu kwh, tăng 8,93% so với sùng kỳ. Các chương trình khuyến khích và ý thức tiết kiệm điện của người dân và doanh nghiệp được nâng cao cũng có thể góp phần làm chậm tốc độ tăng trưởng tiêu thụ điện; ngoài ra nhiều hộ dân, cơ sở kinh doanh, doanh nghiệp sử dụng một phần điện năng lượng mặt trời tự sản xuất, tự tiêu dùng.
* Chỉ số sử dụng lao động: Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, chỉ số sử dụng lao động tăng 5,96%; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng giảm 3,48%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,22%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,33%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,38%.
Chỉ số sử dụng lao động tăng cho thấy các doanh nghiệp có nhu cầu mở rộng sản xuất, nhất là trong công nghiệp chế biến, chế tạo. Tuy nhiên, lao động trong khai khoáng và cung cấp nước, xử lý rác thải còn giảm; đồng thời kết quả khảo sát doanh nghiệp cho thấy khó tuyển dụng lao động theo yêu cầu vẫn là một trong những khó khăn đáng chú ý, cần được theo dõi trong thời gian tới.
* Chỉ số tiêu thụ
Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tháng ước tăng 11,77% so với tháng trước và tăng 12,35% so với cùng kỳ; lũy kế quý II/2026 chỉ số tiêu thụ giảm 1,43% so với cùng kỳ. Các ngành có chỉ số tiêu thụ tăng trong tháng như: sản xuất thực phẩm tăng 30,45%; sản xuất đồ uống tăng 28,25%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 36,73%; chế biến gỗ tăng 48,89%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 76,47%; in và sao chép bản ghi các loại tăng 26,13%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 11,15%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 17,99%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 8,63%; sản xuất kim loại tăng 3,08%; sản xuất máy móc thiết bị chưa phân vào đâu tăng 88,93%. Các ngành có chỉ số tiêu thụ giảm như: ngành dệt giảm 5,73%; sản xuất trang phục giảm 45,18%...
Chỉ số tiêu thụ tăng trong tháng là tín hiệu tích cực, nhưng quý II vẫn giảm 1,43% so với cùng kỳ, phản ánh sức mua và đơn hàng chưa đồng đều giữa các ngành. Các ngành thực phẩm, đồ uống, da giày, gỗ, giấy, hóa chất, cao su - plastic tăng tiêu thụ; ngược lại, dệt và sản xuất trang phục còn giảm, cho thấy rủi ro thị trường đang chịu ảnh hưởng của những biến động chưa tích cực từ tình hình kinh tế thế giới.
* Chỉ số tồn kho
Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tháng ước giảm 14,52% so với tháng trước và giảm 21,4% so với cùng kỳ, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho giảm so cùng kỳ: sản xuất chế biến thực phẩm giảm 23,29%; sản xuất đồ uống giảm 26,68%; dệt giảm 77,93%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy giảm 29,52%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 56,35%… Ngược lại những ngành tăng như: sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 54,23%; Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 9,66%.
* Tình hình xu hướng sản xuất kinh doanh ngành chế biến, chế tạo
Sản xuất kinh doanh quý II/2026 so với quý trước: Qua khảo sát các doanh nghiệp thuộc ngành chế biến chế tạo cho thấy có 32,14% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh thuận lợi hơn quý trước; 21,43% đánh giá khó khăn hơn và 46,43% số doanh nghiệp cho rằng ổn định, không thay đổi. Theo hình thức sở hữu: Doanh nghiệp nhà nước 12,5% có chiều hướng thuận lợi; 75% có chiều hướng không thay đổi và 12,5% có chiều hướng khó khăn hơn. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh 31,03% có chiều hướng thuận lợi; 45,69% có chiều hướng không thay đổi và 23,28% có chiều hướng khó khăn hơn. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) 50% doanh nghiệp có chiều hướng thuận lợi; 37,5% có chiều hướng không thay đổi và 12,5% có chiều hướng khó khăn hơn.
Trong các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp quý II/2026, có 50,94% doanh nghiệp đánh giá do nhu cầu thị trường trong nước thấp; 26,42% doanh nghiệp cho rằng nhu cầu thị trường quốc tế thấp; 35,85% doanh nghiệp cho rằng tính cạnh tranh trong nước cao; 7,55% doanh nghiệp cho rằng tính cạnh tranh của hàng nhập khẩu cao; 22,64% doanh nghiệp cho rằng thiếu nguyên nhiên vật liệu; 5,66% cho rằng thiếu năng lượng; 33,96% doanh nghiệp cho rằng không tuyển dụng được lao động theo yêu cầu; 28,3% doanh nghiệp cho rằng thiết bị công nghệ lạc hậu; 20,75% doanh nghiệp cho rằng lãi xuất vay vốn cao; 20,75% doanh nghiệp cho rằng do gặp khó khăn về tài chính; 9,43% doanh nghiệp cho rằng không có khả năng tiếp cận nguồn vốn vay; 20,75% doanh nghiệp đánh giá lý do chính sách pháp luật của nhà nước và 3,77% lý do khác.

* Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp (KCN)
Trong 6 tháng đầu năm 2026, đã thu hút được 06 dự án đầu tư (trong đó có 01 dự án nước ngoài và 05 dự án trong nước) với tổng vốn đầu tư đăng ký 258,66 tỷ và 0,2 triệu USD, diện tích đất thuê lại 5,18 ha. Các dự án thu hút mới chủ yếu tập trung tại KCN Lộc Sơn và KCN Phú Hội, gồm: Dự án Công ty TNHH Etoile Du Matin của Công ty TNHH Semo Vina, vốn đăng ký 0,2 triệu USD, thuê lại 0,3 ha nhà xưởng tại KCN Lộc Sơn; Nhà máy sản xuất hàng may mặc Bảo Lộc Bảo Lợi Việt Nam, vốn đăng ký 26 tỷ đồng, diện tích 0,3128 ha tại KCN Lộc Sơn; Kho Transimex Phú Hội, vốn đăng ký 98,658 tỷ đồng, diện tích 1,29 ha tại KCN Phú Hội; Nhà máy sản xuất ống nhựa của Công ty TNHH MTV Nhựa Stroman Lâm Đồng, vốn đăng ký 40 tỷ đồng, diện tích 1,3879 ha tại KCN Phú Hội; Nhà máy sản xuất giấy Trường Phát Tâm, vốn đăng ký 14 tỷ đồng, diện tích 1,0887 ha tại KCN Phú Hội; và Nhà máy chế biến nông sản của Công ty Cổ phần Quốc tế Thiên Hà, vốn đăng ký 80 tỷ đồng, diện tích 1,0981 ha tại KCN Phú Hội.
Lũy kế đến nay, các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh có 244 dự án đầu tư, trong đó có 58 dự án FDI và 186 dự án trong nước, với tổng vốn đăng ký 46.728,75 tỷ đồng và 515,132 triệu USD; diện tích đất đăng ký 727,11 ha, tỷ lệ lấp đầy chung đạt 53,88%. Hiện có 175 doanh nghiệp trong các khu công nghiệp đã đi vào hoạt động. Kết quả sản xuất kinh doanh lũy kế đến ngày 30/6/2026 ước đạt 16.520 tỷ đồng doanh thu; kim ngạch xuất khẩu ước đạt 353,8 triệu USD; nộp ngân sách ước đạt 949,5 tỷ đồng.
2. Xây dựng
Hoạt động xây dựng duy trì tăng trưởng, song tốc độ chưa thật sự bứt phá so với yêu cầu tăng trưởng cao. Các dự án hạ tầng giao thông, chỉnh trang đô thị, công trình phục vụ du lịch, dịch vụ và nông nghiệp công nghệ cao tiếp tục tạo khối lượng cho ngành; tuy nhiên, vướng mắc về mặt bằng, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, đất rừng, giá vật liệu và thủ tục dự án vẫn là những yếu tố làm chậm tiến độ thi công, nghiệm thu và thanh toán.
Giá trị sản xuất theo giá hiện hành ngành xây dựng chia theo loại hình quý II/2026 ước đạt 16.492,3 tỷ đồng, tăng 14,87% so cùng kỳ. Trong đó, khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 63 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 0,38%), tăng 75,11% so với cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài Nhà nước ước đạt 8.935,4 tỷ đồng (54,18%), tăng 16,04% so với cùng kỳ; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 176,3 tỷ đồng (1,07%), tăng 19,95% so với cùng kỳ; loại hình kinh tế khác ước đạt 7.317,6 tỷ đồng (44,37%), tăng 13,03% so với cùng kỳ. Ước 6 tháng đầu năm 2026, giá trị sản xuất xây dựng theo giá hiện hành ước đạt 28.653,6 tỷ đồng, tăng 13,68% so cùng kỳ. Trong đó, khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 120,3 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 0,42%), tăng 85,67% so với cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 15.741,8 tỷ đồng (54,94%), tăng 14,40% so với cùng kỳ; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 352,0 tỷ đồng (1,23%), tăng 12,27% so với cùng kỳ; loại hình kinh tế khác ước đạt 12.439,8 tỷ đồng (43,41%), tăng 12,27% so với cùng kỳ.
Chia theo loại công trình, giá trị sản xuất theo giá hiện hành ước quý II/2026 công trình nhà ở đạt 6.578,8 tỷ đồng, tăng 11,55% so với cùng kỳ; công trình nhà không để ở đạt 3.476,3 tỷ đồng, tăng 12,52% so với cùng kỳ; công trình kỹ thuật dân dụng 4.400,3 tỷ đồng, tăng 15,69% so với cùng kỳ; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 2.036,9 tỷ đồng, tăng 29,99% so với cùng kỳ. Ước 6 tháng đầu năm 2026, giá trị sản xuất xây dựng theo giá hiện hành loại công trình nhà ở đạt 11.554,8 tỷ đồng, tăng 10,92% so cùng kỳ; công trình nhà không để ở đạt 5.952,9 tỷ đồng, tăng 11,54% so với cùng kỳ; công trình kỹ thuật dân dụng 7.425,7 tỷ đồng, tăng 13,88%; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 3.720,2 tỷ đồng, tăng 26,92% so với cùng kỳ.
Kết quả khảo sát doanh nghiệp xây dựng cho thấy tâm lý thận trọng còn rõ nét. Quý II/2026 so với quý I/2026 có 14,5% doanh nghiệp nhận định thuận lợi hơn, 50,8% ổn định và 34,7% khó khăn hơn; chỉ số cân bằng chung là -20,2%. Dự báo quý III/2026, tỷ lệ doanh nghiệp nhận định khó khăn hơn tăng lên 48%, chỉ số cân bằng chung giảm -35,3%, cho thấy ngành xây dựng cần được hỗ trợ mạnh hơn về mặt bằng, thủ tục, nguồn vật liệu và thanh toán khối lượng.
3. Đầu tư phát triển
Đầu tư phát triển tiếp tục là kênh tạo động lực tăng trưởng quan trọng sau khi tỉnh mở rộng không gian phát triển. Vốn đầu tư toàn xã hội tăng khá, cơ cấu vốn ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng chủ lực, tập trung vào công nghiệp chế biến, khai khoáng, năng lượng, du lịch, nông nghiệp công nghệ cao và hạ tầng. Tuy nhiên, tốc độ thực hiện một số dự án còn chậm, nhất là nhóm dự án liên quan đến bồi thường, giải phóng mặt bằng, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng và thủ tục đất đai.
Trong 6 tháng đầu năm, công tác phân bổ và triển khai vốn cho các dự án hạ tầng trọng điểm, công trình khởi công mới được thực hiện khẩn trương. Tuy nhiên, tiến độ thực hiện của các dự án còn chậm do vướng mắc trong chuyển đổi mục đích sử dụng rừng và bồi thường, giải phóng mặt bằng chưa được xử lý dứt điểm.
3.1. Tình hình thực hiện vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý
Sáu tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 4.539,56 tỷ đồng, tăng 4,15% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 4.233,71 tỷ đồng, tăng 4,15% so với cùng kỳ, chiếm 93,26% tổng số vốn trên địa bàn (trong đó: nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh, vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 1.956,99 tỷ đồng, tăng 24,47% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 605,25 tỷ đồng, giảm 46,71% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài ước đạt 68,05 tỷ đồng, giảm 28,28% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết ước đạt 1.576,63 tỷ đồng, tăng 26,42% so với cùng kỳ; vốn khác ước đạt 26,79 tỷ đồng, tăng 77,36% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 305,85 tỷ đồng, chiếm 6,74% tổng số vốn trên địa bàn, tăng 3,24% so với cùng kỳ.
3.2. Tình hình thực hiện vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn
Vốn đầu tư toàn xã hội tiếp tục mở rộng, trong đó vốn ngoài nhà nước giữ vai trò dẫn dắt. Dòng vốn tập trung vào các dự án có khả năng tạo năng lực sản xuất và không gian phát triển mới như Thung lũng Đại dương, Điện phân nhôm Đắk Nông, Nam sông Đa Nhim, các khu công nghiệp Sơn Mỹ 1, Sơn Mỹ 2, cùng nhóm dự án chế biến, logistics và nông nghiệp công nghệ cao. Đây là nguồn lực quan trọng cho tăng trưởng trung hạn, nhưng cần tiếp tục theo dõi khả năng chuyển hóa thành khối lượng thực hiện trong năm 2026.
Sáu tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư toàn xã hội đạt 51.950,24 tỷ đồng, tăng 14,38% so với cùng kỳ năm trước. Vốn nhà nước đạt 8.379,9 tỷ đồng (chiếm 16,13%), tăng 6,95%. Vốn ngoài nhà nước đạt 41.688,83 tỷ đồng (41,78%), tăng 16,16% tiếp tục giữ vai trò chủ lực, huy động hiệu quả nguồn xã hội hóa (vốn của tổ chức, doanh nghiệp đạt 21.705,37 tỷ đồng, tăng 15,15%; vốn của dân cư đạt 19.983,46 tỷ đồng, tăng 17,27%). Vốn FDI đạt 1.881,51 tỷ đồng (3,62%), tăng 11,21%, dòng vốn FDI có sự chọn lọc chiến lược, tập trung vào nông nghiệp công nghệ sinh học, chế biến sâu nông sản, logistics và du lịch sinh thái. Theo khoản mục đầu tư, vốn xây dựng cơ bản chiếm tỷ trọng cao nhất 77,1% (40.053,09 tỷ đồng, tăng 16,37%), tiếp đến là vốn sửa chữa, nâng cấp tài sản cố định chiếm 12,74% (6.616,59 tỷ đồng, tăng 7,11%), cùng các khoản mục mua sắm tài sản cố định, bổ sung vốn lưu động và vốn khác đều tăng trưởng.
Kết quả trên cho thấy dòng vốn đầu tư tiếp tục mở rộng, cơ cấu chuyển dịch tích cực, đóng góp quan trọng cho phát triển hạ tầng, công nghiệp chế biến chế tạo và tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Trong 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 2.382 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 58,38% so với cùng kỳ; 556 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 10,76%; 1.191 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, giảm 2,03%; 491 doanh nghiệp giải thể, tăng 71,68% (tương ứng 205 doanh nghiệp). Tổng số vốn đăng ký của doanh nghiệp đạt 11.965,5 tỷ đồng, tăng 34,63%. Bình quân một tháng số lượng doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động cao xấp sỉ 6 lần số doanh nghiệp rút lui (490 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại so với gần 82 doanh nghiệp rút lui). Điều này cho thấy niềm tin kinh doanh có cải thiện; tuy nhiên, số doanh nghiệp giải thể tăng mạnh cũng phản ánh áp lực cạnh tranh, chi phí và khả năng chống chịu của một bộ phận doanh nghiệp còn hạn chế.
Về thu hút đầu tư (tính từ đầu năm đến ngày 18/6/2026), toàn tỉnh có 31 dự án đầu tư cấp mới với tổng vốn đăng ký đầu tư 143.886,6 tỷ đồng; 28 dự án đầu tư được điều chỉnh chủ trương đầu tư/điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Lũy kế đến ngày 18/6/2026, trên địa bàn tỉnh có 2.950 dự án đầu tư còn hiệu lực hoạt động với tổng vốn đầu tư 916.601 tỷ đồng (trong đó: có 245 dự án FDI còn hiệu lực hoạt động, với tổng vốn đăng ký đầu tư đạt 224.958 tỷ đồng).
IV. Thương mại; giá cả; du lịch; giao thông vận tải
Hoạt động thương mại, dịch vụ và vận tải trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Sức mua tăng, nguồn cung hàng hóa ổn định, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân; giá bán trên thị trường tương đối ổn định, không xảy ra biến động khan hiếm làm tăng giá đột biến. Hoạt động du lịch diễn ra khá nhộn nhịp, nhiều hoạt động văn hoá, thể thao và nhiều lễ hội khác đã thu hút nhiều du khách. Dịch vụ lữ hành tiếp tục tăng cường; các nhà hàng, cơ sở kinh doanh ăn uống tăng cường phục vụ cho người dân địa phương và du khách. Hoạt động kinh doanh vận tải đường bộ đáp ứng nhu cầu vận chuyển hành khách và hàng hoá trên thị trường kịp thời; vận tải đường thuỷ diễn ra thông suốt phục vụ cho du khách và người dân đảo Phú Quý.
1. Thương mại
1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ
Sáu tháng đầu năm 2026 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ đạt 97.606,7 tỷ đồng, tăng 17,33% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hoá đạt 60.083,8 tỷ đồng, tăng 15,7% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành đạt 19.840 tỷ đồng, tăng 23,91% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác đạt 17.682,9 tỷ đồng, tăng 15,95% so với cùng kỳ năm trước.

2. 2. Giá cả
2.1. Giá tiêu dùng (CPI)
Chỉ số giá tiêu dùng 6 tháng đầu năm chịu tác động đan xen: một mặt, nguồn cung hàng hóa cơ bản ổn định và điều hành giá xăng dầu góp phần hạn chế biến động đột biến; mặt khác, giá nhà ở, điện nước, vật liệu xây dựng, thực phẩm, giao thông và giáo dục tăng đã tạo áp lực lên mặt bằng giá chung. Vì vậy, kiểm soát giá, nhất là nhóm hàng thiết yếu và chi phí đầu vào, tiếp tục là nhiệm vụ quan trọng trong thời gian tới.
Trong tháng CPI giảm 0,19% so với tháng trước, tăng 0,60% so với tháng 12/2025 và tăng 4,01% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân quý II/2026, CPI tăng 4,44% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 6 tháng đầu năm 2026, CPI tăng 4,40% so với cùng kỳ năm trước. Các nhóm hàng tác động lớn đến CPI gồm: nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,04%, làm CPI chung tăng 1,08 điểm phần trăm; thực phẩm tăng 4,58%, đóng góp 1,14 điểm phần trăm; giao thông tăng 5,38%, làm CPI tăng 0,61 điểm phần trăm; giáo dục tăng 7,18%, góp phần tăng 0,34 điểm phần trăm. Ngoài ra, nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 4,92%, đồ uống và thuốc lá tăng 3,3%, thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,49%. Nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,27%, góp phần giảm áp lực tăn giá. Nhìn chung, mặt bằng giá 6 tháng đầu năm 2026 chịu tác động chủ yếu từ chi phí nguyên vật liệu đầu vào, giá nhiên liệu, giá nhà ở, vật liệu xây dựng và việc điều chỉnh học phí tại một số cơ sở giáo dục.

2.2. Tình hình biến động giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản; giá sản xuất công nghiệp và giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất
Chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản quý II/2026 tăng 5,93% so cùng kỳ năm trước và 6 tháng đầu năm 2026 tăng 7,68% so cùng kỳ năm trước. Trong 3 nhóm sản phẩm chính các nhóm hàng đều tăng giá so cùng kỳ năm trước: Nhóm sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 5,59%; sản phẩm thủy sản khai thác, nuôi trồng tăng 7,21% và sản phẩm lâm nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 3,76%. Chỉ số giá sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản 6 tháng đầu năm 2026 tăng 7,68% so cùng kỳ năm trước, trong đó tăng cao nhất là nhóm sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 7,47%; tiếp đến là nhóm sản phẩm thủy sản khai thác, nuôi trồng tăng 6,55%; nhóm sản phẩm lâm nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng thấp 3,49%.
Chỉ số giá nguyên, nhiên, vật liệu đầu vào dùng cho sản xuất quý II/2026 tăng 11,72% so với cùng kỳ năm trước, trong 7 nhóm sản phẩm chính các nhóm hàng đều tăng giá so cùng kỳ năm trước: Nhóm sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, và thuỷ sản tăng 1,93%; sản phẩm từ khai khoáng tăng 18,85%; nguyên vật liệu khác tăng 14,61%; điện, khí đốt, hơi nước và điều hoà không khí tăng 3,29%; nước tự nhiên khai thác tăng 0,33%; sản phẩm xây dựng tăng 6,9%; dịch vụ chuyên môn khoa học công nghệ tăng 5,47%. Tính bình quân 6 tháng đầu năm 2026 tăng 9,19% so cùng kỳ năm trước, trong 7 nhóm sản phẩm chính các nhóm hàng đều tăng giá so cùng kỳ năm trước: Nhóm sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, và thuỷ sản tăng 4,3%; sản phẩm từ khai khoáng tăng 18,6%; nguyên vật liệu khác tăng 9,44%; điện, khí đốt, hơi nước và điều hoà không khí tăng 4,04%; nước tự nhiên khai thác tăng 0,62%; sản phẩm xây dựng tăng 5,37%; dịch vụ chuyên môn khoa học công nghệ tăng 5,66%.
Chỉ số giá sản xuất công nghiệp quý II/2026 tăng 1,01% so với quý trước; tăng 3,9% so với quý cùng kỳ năm trước. Tính bình quân chỉ số giá 6 tháng đầu năm 2026 tăng 3,85% so với cùng kỳ năm năm trước, trong đó: nhóm sản phẩm khai khoáng tăng 19,59% so với cùng kỳ năm trước (nhờ nhóm sản phẩm quặng kim loại và tinh quặng kim loại, nhóm nhóm sản phẩm khai khoáng khác); nhóm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,95% (hầu hết sản phẩm đều tăng giá); nhóm điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 1,28% (do những tháng đầu năm công ty cổ phần thủy điện Trung Nam, Đăk R'tih áp dụng theo đơn giá điện mùa khô; bên cạnh đó sản lượng điện phát ra của công ty cổ phần thủy điện Đa Nhim - àm Thuận - Đa Mi cao hơn giá hợp đồng, tác động làm tăng chỉ số giá nhóm thủy điện; ngoài ra giá điện mặt trời biến động theo tỷ giá đồng Đô la Mỹ); nhóm nước tự nhiên khai thác, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,79% (do lượng nước tiêu thụ tăng tác động lên giá nước sản xuất; bên cạnh đó chi phí nhân công, giá nhiên liệu và chi phí vận hành tăng nên một số công ty điều chỉnh tăng giá dịch vụ thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu).
3. Hoạt động du lịch
Trong tháng, tỉnh Lâm Đồng sôi động với nhiều sự kiện văn hóa và thể thao quy mô lớn, nổi bật là Hội thao Quân sự, võ thuật và thể thao Công an nhân dân (từ ngày 17-24/6/2026) thu hút khoảng 1.500 vận động viên tham gia thi đấu các môn: bắn súng, võ thuật, vượt vật cản, bóng đá nam 7 người và Pickleball. Giải Thể thao học sinh phổ thông toàn quốc (từ ngày 20-30/6/2026); Chương trình kích cầu du lịch nội tỉnh diễn ra xuyên suốt trong tháng và kéo dài đến cuối năm 2026 hưởng ứng mùa du lịch hè, tỉnh triển khai chương trình “Người Lâm Đồng đi du lịch Lâm Đồng - Khám phá quê hương, kết nối yêu thương”, với nhiều chuỗi trải nghiệm, khám phá thiên nhiên, văn hóa và kết nối các vùng miền trên toàn tỉnh.
Trong 6 tháng đầu năm 2026 lượt khách phục vụ đạt 11.995 nghìn lượt, tăng 18,08% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày đạt 428 nghìn lượt, tăng 13,91% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ đạt 22.430 nghìn ngày khách, tăng 20,2% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 đạt 825 nghìn lượt, tăng 18,6% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách quốc tế đạt 2.630 nghìn ngày khách, tăng 22,32% so với cùng kỳ năm trước.
Doanh thu dịch vụ lưu trú trong 6 tháng đầu năm 2026 doanh thu dịch vụ lưu trú đạt gần 4.026 tỷ đồng, tăng 23,25% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống đạt 15.498 tỷ đồng, tăng 23,75% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ lữ hành đạt 325 tỷ đồng, tăng 41,8% so với cùng kỳ năm trước.
Doanh thu từ hoạt động du lịch 6 tháng đầu năm 2026 doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 33.310 tỷ đồng, tăng 22,15% so với cùng kỳ năm trước.

4. Hoạt động dịch vụ khác
Tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác trong 6 tháng đầu năm 2026 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 17.682,9 tỷ đồng, tăng 15,95% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 4.284,9 tỷ đồng, tăng 10,67%; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 995,5 tỷ đồng, tăng 10,09%; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo đạt 892 tỷ đồng, tăng 21,51%; doanh thu dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội ước đạt 1.439,8 tỷ đồng, tăng 15,31%; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 8.266,2 tỷ đồng, tăng 20,57%; doanh thu dịch vụ khác đạt 1.804,5 tỷ đồng, tăng 10,36%.
5. Hoạt động vận tải
Do nhu cầu đi lại của người dân và khách du lịch đến Đà Lạt, Phan Thiết và các điểm du lịch trên địa bàn tỉnh tăng trong tháng đầu tiên của mùa hè; đồng thời hoạt động vận chuyển nông sản, vật liệu xây dựng và hàng hóa phục vụ sản xuất, kinh doanh diễn ra sôi động để phục vụ cho các công trình đang thi công. Bên cạnh đó, hệ thống giao thông kết nối giữa Lâm Đồng với các tỉnh khu vực lân cận ngày càng thuận lợi, góp phần thúc đẩy hoạt động logistics, kho bãi và doanh thu ngành vận tải tăng so với cùng kỳ. Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.274,7 tỷ đồng, tăng 6,22% so với tháng trước và tăng 27,54% so với cùng kỳ năm trước. Quý II/2026 ước đạt 3.669,4 tỷ đồng, tăng 25,25% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 7.133 tỷ đồng, tăng 23,12% so với cùng kỳ năm trước.
- Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong 6 tháng đầu năm 2026, lượt khách vận chuyển ước đạt 17.098 nghìn HK, tăng 18,09% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 2.466.897 nghìn HK.Km, tăng 18,92% so với cùng kỳ năm trước.
- Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong 6 tháng đầu năm 2026, khối lượng vận chuyển ước đạt 12.274,5 nghìn tấn, tăng 17,3% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 1.806.168 nghìn tấn.Km, tăng 17,85% so với cùng kỳ năm trước
- Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 7.133 tỷ đồng, tăng 23,12% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu vận tải hành khách ước đạt 2.465 tỷ đồng, tăng 28,05% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 3.465 tỷ đồng, tăng 24,7% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 939,7 tỷ đồng, tăng 13,54% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 263,3 tỷ đồng, tăng 0,5% so với cùng kỳ năm trước.

- Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân trong 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.373 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 1.250 nghìn tấn (muối xá, đá xá, tro bay, cát, xỉ than); nhập cảng 123 nghìn tấn (túi xi măng, cao lanh, bột đá, máy móc, muối xá).
V. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng
1. Thu ngân sách nhà nước
Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 18.623,9 tỷ đồng bằng 54,08% kế hoạch năm và tăng 11,06% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa ước đạt 17.320,4 tỷ đồng, bằng 53,01% kế hoạch năm và tăng 8,71%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước đạt 1.303,5 tỷ đồng, bằng 74,06% kế hoạch năm và tăng 55,69% so với cùng kỳ năm trước.

Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa trong 6 tháng đầu năm 2026: Thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 2.490 tỷ đồng (bằng 65,46% kế hoạch năm và tăng 6,57% so với cùng kỳ năm trước); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 873 tỷ đồng (bằng 63,27% kế hoạch năm và tăng 11,10%); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 4.856 tỷ đồng (bằng 72,61% kế hoạch năm và tăng 53,37%); thuế thu nhập cá nhân ước đạt 1.600 tỷ đồng (bằng 58,61% kế hoạch năm và tăng 0,34%); các khoản thu về nhà, đất ước đạt 2.220 tỷ đồng (bằng 30,10% kế hoạch năm và giảm 17,39%); thu từ xổ số kiến thiết ước đạt 3.087 tỷ đồng (bằng 53,22% kế hoạch năm và tăng 9,89%).
2. Chi ngân sách nhà nước
Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 25.309,5 tỷ đồng (bằng 51,87% kế hoạch, tăng 0,36% so với cùng kỳ), trong đó: Chi đầu tư phát triển ước đạt 9.051,8 tỷ đồng, giảm 2,91% so với cùng kỳ; chi thường xuyên ước đạt 16.138,6 tỷ đồng, tăng 0,40% so với cùng kỳ.
3. Hoạt động tín dụng
Tính đến 31/5/2026, công tác huy động vốn của các TCTD (Tổ chức tín dụng) trên địa bàn tỉnh đạt 240.469 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 11.193 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 4,88%. Trong đó, huy động bằng đồng Việt Nam đạt 237.670 tỷ đồng (chiếm 98,84% tổng huy động vốn); huy động bằng ngoại tệ đạt 2.799 tỷ đồng, (chiếm 1,16% tổng huy động vốn).
Ước đến 30/6/2026, huy động vốn của các TCTD trên địa bàn toàn tỉnh đạt 243.000 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng khoảng 13.728 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 5,99%.
Hoạt động tín dụng: Đến 31/5/2026, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh đạt 374.447 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 3.463 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 0,93%. Trong đó, dư nợ cho vay bằng đồng Việt Nam đạt 371.780 tỷ đồng (chiếm 99,29% tổng dư nợ); dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 2.667 tỷ đồng (chiếm 0,71% tổng dư nợ). Dư nợ cho vay ngắn hạn là 264.635 tỷ đồng, dư nợ cho vay trung dài hạn là 109.812 tỷ đồng. Ước đến 30/6/2026, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn toàn tỉnh đạt 382.000 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng khoảng 11.016 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 2,97%.
Lãi suất tiền gửi bằng VND bình quân của NHTM trong tỉnh ở mức 0,18% - 0,40%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 4,31% - 4,74%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 7,22% -8,01%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng; 7,43% - 7,92%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng. Lãi suất tiền gửi USD của TCTD ở mức 0%/năm đối với tiền gửi của cá nhân và tổ chức.
Lãi suất cho vay bằng VND bình quân của NHTM đối với các khoản cho vay mới ở mức 9% - 10,51%/năm. Lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân bằng VND đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 4%/năm. Lãi suất cho vay bằng USD bình quân ở mức 4,17% - 4,52%/năm.
Dư nợ cho vay: Đến 31/5/2026, dư nợ cho vay ngành du lịch - dịch vụ - thương mại trên địa bàn tỉnh đạt 184.967 tỷ đồng, chiếm 49,4% tổng dư nợ tín dụng; ngành công nghiệp - xây dựng đạt 32.253 tỷ đồng, chiếm 8,61% tổng dư nợ tín dụng; ngành nông lâm thủy sản đạt 157.227 tỷ đồng, chiếm 41,99% tổng dư nợ tín dụng. Nợ xấu là 6.759 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 1,8% trong tổng dư nợ tín dụng.
VI. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội
1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao
1.1. Hoạt động văn hóa
Trong 6 tháng đầu năm 2026, các hoạt động tuyên truyền, cổ động, văn hóa, văn nghệ được triển khai đồng bộ, phục vụ hiệu quả các nhiệm vụ chính trị và các ngày lễ lớn của đất nước, địa phương; đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến người dân. Hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản tiếp tục được quan tâm.
1.2. Hoạt động thể thao
Trong 6 tháng đầu năm 2026, phong trào thể dục, thể thao quần chúng tiếp tục phát triển sôi nổi với nhiều giải đấu và sự kiện quy mô cấp tỉnh, khu vực được tổ chức Thể thao thành tích cao tiếp tục đạt nhiều kết quả tích cực. Trong 6 tháng đầu năm, tỉnh đã cử 778 vận động viên tham gia 44 giải thể thao cấp quốc gia và quốc tế, giành 254 huy chương, gồm 45 Huy chương Vàng, 70 Huy chương Bạc và 139 Huy chương Đồng; trong đó có 01 Huy chương Bạc tại Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X và 09 huy chương quốc tế (gồm 03 Huy chương Vàng, 01 Huy chương Bạc và 05 Huy chương Đồng).
2. Giáo dục và đào tạo
Trong 6 tháng đầu năm 2026, ngành Giáo dục tập trung chuẩn bị và tổ chức Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 bảo đảm an toàn, nghiêm túc, đúng quy chế; chủ động rà soát cơ sở vật chất, nhân sự, phương án bảo đảm an ninh, an toàn và phòng, chống gian lận thi cử. Toàn tỉnh bố trí 91 điểm thi với 1.845 phòng thi, có 41.309 thí sinh đăng ký dự thi, gồm 39.594 học sinh lớp 12 và 1.715 thí sinh tự do.
Năm học 2025-2026, toàn tỉnh có 526 cơ sở giáo dục mầm non với 155.054 trẻ; 564 trường tiểu học (289 trường đạt chuẩn quốc gia) với 327.349 học sinh; 366 trường trung học cơ sở (234 trường đạt chuẩn quốc gia) với 248.983 học sinh; 122 trường trung học phổ thông (52 trường đạt chuẩn quốc gia) với 116.160 học sinh.
Lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp tiếp tục được duy trì với 78 cơ sở giáo dục nghề nghiệp, gồm 06 trường cao đẳng, 05 trường trung cấp, 28 trung tâm giáo dục nghề nghiệp, 28 doanh nghiệp đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp và 11 cơ sở giáo dục nghề nghiệp khác. Đồng thời, ngành tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số, phổ cập giáo dục, giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số, xây dựng trường chuẩn quốc gia, giáo dục STEM/STEAM, đổi mới quản trị trường học và triển khai tuyển sinh đầu cấp năm học 2026-2027.
3. Y tế
Trong 6 tháng đầu năm 2026, ngành Y tế tiếp tục tăng cường giám sát, phát hiện và xử lý kịp thời các bệnh truyền nhiễm; chủ động triển khai các biện pháp phòng, chống dịch bệnh, đặc biệt là dịch bệnh do vi rút Ebola; đồng thời bảo đảm đầy đủ thuốc, hóa chất, vật tư y tế và nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh phục vụ Nhân dân.
Ước 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh ghi nhận 1.766 ca sốt xuất huyết, đã xử lý 155 ổ dịch; 02 ca sốt rét; 2.709 ca tay chân miệng và 76 ca sởi. Công tác tiêm chủng mở rộng được duy trì với 3.877 trẻ dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ, 4.220 trẻ được tiêm vắc xin sởi - rubella (MR) và 3.651 phụ nữ mang thai được tiêm phòng uốn ván.
Chương trình phòng, chống bệnh phong tiếp tục duy trì đạt các tiêu chí loại trừ của Bộ Y tế; toàn tỉnh đang quản lý 437 bệnh nhân phong. Công tác phòng, chống lao được triển khai tại 100% xã, phường, đặc khu; trong tháng phát hiện 186 bệnh nhân lao mới và 05 bệnh nhân lao kháng thuốc. Trong tháng phát hiện 09 ca nhiễm HIV mới, có 03 trường hợp tử vong do AIDS; lũy kế toàn tỉnh có 4.827 người nhiễm HIV, 1.790 người chuyển sang AIDS và 1.577 người tử vong.
Công tác khám, chữa bệnh tiếp tục đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân. Ước 6 tháng đầu năm 2026, các cơ sở y tế đã khám cho 2.524.114 lượt người, điều trị nội trú 204.599 lượt bệnh nhân với 1.256.544 ngày điều trị, công suất sử dụng giường bệnh đạt 80,0%; thực hiện 3.318.303 xét nghiệm, 756.752 lượt chẩn đoán hình ảnh và 32.742 ca phẫu thuật.
Công tác bảo đảm an toàn thực phẩm được tăng cường. Trong 6 tháng đầu năm 2026 xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm làm 97 người mắc, không có trường hợp tử vong.
4. Thông tin, báo chí, xuất bản
- Báo chí và truyền thông: Thực hiện tốt công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; tuyên truyền kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031; tuyên truyền chuỗi hoạt động “Chào mùa Du lịch hè năm 2026”,... đồng thời thường xuyên rà soát, theo dõi, xử lý các thông tin trên không gian mạng liên quan đến tỉnh Lâm Đồng.
- Thông tin cơ sở và thông tin đối ngoại: Được triển khai theo kế hoạch, bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương và địa phương. Đã ban hành Kế hoạch số 6842/KH-UBND ngày 14/5/2026 về thực hiện Quyết định số 173/QĐ-TTg ngày 27/01/2026 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược truyền thông quảng bá hình ảnh Việt Nam ra nước ngoài giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045 trên đại bàn tỉnh Lâm Đồng; đồng thời triển khai thuê phần mềm giám sát thông tin trên không gian mạng trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng.
- Xuất bản, in và phát hành: Thực hiện tốt hoạt động quản lý Nhà nước về xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm trên địa bàn tỉnh. Trong 6 tháng đầu năm 2026, đã cấp 13 giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh và 02 giấy phép tổ chức hội chợ triển lãm xuất bản phẩm.
5. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và người có công
5.1. Chính sách dân tộc
Trong 6 tháng đầu năm 2026, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) tiếp tục ổn định; các chính sách an sinh xã hội, đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi được triển khai hiệu quả, góp phần nâng cao đời sống, bảo tồn bản sắc văn hóa và cải thiện điều kiện học tập, chăm sóc sức khỏe của người dân.
Đối với Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi, tổng kế hoạch vốn giai đoạn 2021-2025 kéo dài sang năm 2026 là 1.140.892,89 triệu đồng; đến tháng 6/2026 đã giải ngân 871.158,59 triệu đồng, đạt 76,36% kế hoạch, gồm 560.268,49 triệu đồng vốn đầu tư phát triển và 290.890,10 triệu đồng vốn sự nghiệp.
Chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất tiếp tục được triển khai với 991 hộ đăng ký hỗ trợ sản xuất 5.916,15 ha bắp lai và lúa nước; tổ chức 12 lớp tập huấn cho hơn 800 lượt hộ dân. Đồng thời, đã cung ứng 15 tấn lúa giống, 10 tấn bắp giống, 500 tấn phân bón và hỗ trợ tiêu thụ 3.500 tấn bắp lai thương phẩm, 10 tấn mủ cao su, góp phần bảo đảm nguồn vật tư đầu vào, nâng cao thu nhập và thúc đẩy giảm nghèo bền vững trong vùng đồng bào DTTS và miền núi.
5.2. Chính sách tôn giáo
Trong 6 tháng đầu năm 2026, hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh diễn ra ổn định; các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác tôn giáo được triển khai hiệu quả, công tác giải quyết thủ tục hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo được thực hiện kịp thời, đúng quy định, đáp ứng nhu cầu chính đáng của các tổ chức, cá nhân theo tôn giáo.
Tỉnh đã chấp thuận 25 trường hợp thành lập tổ chức tôn giáo trực thuộc, 01 trường hợp chia tách tổ chức tôn giáo, 25 trường hợp bổ nhiệm chức việc, 22 lớp bồi dưỡng người chuyên hoạt động tôn giáo, 08 trường hợp xây dựng công trình tôn giáo, 80 trường hợp tiếp nhận thông báo phong phẩm chức sắc, 01 thông báo bổ sung danh mục hoạt động tôn giáo và 27 trường hợp thuyên chuyển địa bàn hoạt động tôn giáo. Nhìn chung, các chức sắc, chức việc, nhà tu hành và tín đồ chấp hành tốt quy định của pháp luật, góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và ổn định đời sống tinh thần của Nhân dân.
5.3. Chính sách người có công
Trong 6 tháng đầu năm 2026, công tác chăm lo người có công với cách mạng tiếp tục được quan tâm thực hiện. Tỉnh đã giải quyết 1.875 hồ sơ về chế độ chính sách cho người có công; riêng trong tháng giải quyết 324 hồ sơ và tích cực chuẩn bị các hoạt động kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2026), triển khai Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ.
Trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, tỉnh đã tặng 27.201 suất quà theo Quyết định của Chủ tịch nước với tổng kinh phí hơn 8,3 tỷ đồng và 65.234 suất quà theo Nghị quyết của HĐND tỉnh với tổng kinh phí hơn 83,8 tỷ đồng. Thực hiện chi trả trợ cấp ưu đãi hằng tháng cho 18.315 người có công với kinh phí gần 46,3 tỷ đồng; đồng thời chi trả trợ cấp không dùng tiền mặt cho 13.802 người với tổng kinh phí 182,24 tỷ đồng.
Bên cạnh đó, tỉnh đã phê duyệt hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát cho 87 đối tượng là con đẻ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học (gồm 47 căn xây mới và 40 căn sửa chữa); tổ chức điều dưỡng tập trung cho 425 lượt người và điều dưỡng tại nhà cho 3.745 người, với tổng kinh phí 9,4 tỷ đồng.
6. Hoạt động bảo hiểm
Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN cho đối tượng thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia và thụ hưởng. Tính đến hết tháng 5 năm 2026, toàn tỉnh có 317.946 người tham gia BHXH, tăng 1,10% so với tháng trước; có 240.259 người tham gia BHTN, tăng 0,85%; số người tham gia BHYT là 3.110.300 người, tăng 1,17% so với tháng trước. Tỷ lệ bao phủ BHYT chung toàn tỉnh đạt 91,81% dân số.
Tính đến ngày 31/5/2026, toàn tỉnh đã giải quyết mới 47.218 lượt người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả cho 7.332 người hưởng chế độ BHTN (trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 735 người; trợ cấp 1 lần cho 11.131 người; chế độ ốm đau cho 27.313 người; chế độ thai sản cho 6.270 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 1.769 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 6.967 người và hỗ trợ học nghề cho 365 người).
7. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/5 - 14/6/2026)
Trong 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 345 vụ (trong đó có 05 vụ đường sắt), giảm 89 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết 223 người, tăng 14 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 230 người, giảm 121 người so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do người điều khiển phương tiện chạy quá tốc độ, thiếu quan sát, đi không đúng phần đường, lấn làn, qua đường bất cẩn, sử dụng rượu bia và vượt xe sai quy định.
8. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường
- Thiên tai: Trong 6 tháng đầu năm 2026, trên địa bàn tỉnh xảy ra 14 vụ thiên tai làm 01 người chết, 02 người bị thương, 08 căn nhà bị sập đổ hoàn toàn, 11 căn nhà bị hư hỏng, 0,5 ha rau màu bị thiệt hại nặng, 0,6 ha lúa mới gieo xạ bị vùi lấp, 14 con gia sức bị cuốn trôi, khoảng 70.000 con gia cầm chết do ảnh hưởng của sét đánh, 03 tàu cá bị chìm và hư hỏng nhiều công trình, tài sản khác; ước tổng giá trị thiệt hại là 29,5 tỷ đồng.
- Cháy nổ: Trong 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 39 vụ cháy, tăng 13 vụ so với cùng kỳ năm trước, làm 02 người chết và 02 người bị thương; có 30 vụ đã được thống kê thiệt hại với số tiền là 2.975 triệu đồng, 09 vụ đang thống kê thiệt hại.
- Vi phạm môi trường: Trong 6 tháng đầu năm 2026 xảy ra 3 vụ vi phạm, giảm 15 vụ so với cùng kỳ năm trước, đã xử phạt 415,0 triệu đồng (6 tháng đầu năm 2025 xảy ra 18 vụ vi phạm, xử phạt 3.278 triệu đồng).
* Đánh giá chung
Sáu tháng đầu năm 2026, kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng tiếp tục phục hồi, duy trì tăng trưởng khá và có chuyển biến rõ hơn trong quý II. GRDP 6 tháng ước tăng 7,90% so với cùng kỳ, riêng quý II tăng 9,22%, cao hơn quý I, cho thấy tác động tích cực của các giải pháp chỉ đạo, điều hành. Nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục là trụ đỡ ổn định; công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ, du lịch và vận tải đều tăng, tạo nền tảng quan trọng cho mục tiêu phát triển cả năm.
Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục là khu vực giữ vai trò ổn định nền kinh tế. Diện tích gieo trồng cây hàng năm tăng so với cùng kỳ; một số cây trồng chủ lực như cà phê, sầu riêng, hồ tiêu, rau, hoa duy trì quy mô sản xuất lớn; chăn nuôi phát triển khá, tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng 6 tháng tăng 9,69%; sản lượng sữa tăng 25,96%. Sản xuất thủy sản tăng 2,99%; sản xuất tôm giống tăng 10,01%. Công tác ứng dụng khoa học công nghệ, khuyến nông, sản xuất an toàn bền vững, liên kết sản xuất và Chương trình OCOP tiếp tục được quan tâm, góp phần nâng cao chất lượng và khả năng tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.
Sản xuất công nghiệp duy trì đà tăng trưởng khá, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực chủ yếu. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) 6 tháng đầu năm tăng 9,60%. Nhiều sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ như đá các loại, thủy sản chế biến, rau quả chế biến, đồ uống, giày dép, phân bón, gạch xây dựng, bê tông trộn sẵn, điện thương phẩm. Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm so với cùng kỳ, cho thấy khả năng tiêu thụ sản phẩm có chuyển biến tích cực.
Hoạt động xây dựng và đầu tư phát triển tiếp tục được thúc đẩy. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng 14,38%; trong đó vốn ngoài nhà nước tiếp tục giữ vai trò chủ lực, tăng 16,16%. Một số dự án hạ tầng giao thông, khu công nghiệp, đô thị, hàng không, thủy lợi và công nghiệp quy mô lớn tiếp tục được triển khai, tạo nền tảng cho tăng trưởng các quý tiếp theo và trung hạn.
Thương mại, dịch vụ và du lịch tăng khá trong 6 tháng đầu năm. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ tăng 17,33%. Hoạt động du lịch tiếp tục đóng vai trò động lực của khu vực dịch vụ, với tổng lượt khách phục vụ đạt gần 12 triệu lượt, tăng 18,08%; doanh thu từ hoạt động du lịch tăng 22,15%. Hoạt động vận tải, kho bãi tăng khá, đáp ứng tốt hơn nhu cầu vận chuyển hành khách, hàng hóa, du lịch và sản xuất kinh doanh.
Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt kết quả tích cực, tổng thu 6 tháng đạt tăng 11,06% so với cùng kỳ; trong đó thu nội địa tăng 8,71%. Hoạt động tín dụng tiếp tục bảo đảm vốn cho nền kinh tế; huy động vốn đến cuối tháng 6 ước tăng 5,99% so với cuối năm 2025. Tình hình đăng ký doanh nghiệp có tín hiệu tích cực, 6 tháng đầu năm số doanh nghiệp thành lập mới tăng 58,38%; số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tăng 10,76%; số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động cao hơn nhiều so với số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.
Các lĩnh vực văn hóa - xã hội tiếp tục được quan tâm thực hiện. Nhiều hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch, bảo tồn di sản được tổ chức, góp phần quảng bá hình ảnh địa phương và phục vụ đời sống tinh thần của Nhân dân. Công tác giáo dục tập trung hoàn thành nhiệm vụ năm học, chuẩn bị và tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 an toàn, nghiêm túc. Ngành y tế chủ động giám sát, phòng chống dịch bệnh, duy trì công tác khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe Nhân dân. Các chính sách đối với người có công, đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế tiếp tục được triển khai, góp phần bảo đảm an sinh xã hội và ổn định đời sống dân cư.
Bên cạnh những kết quả đạt được, tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm vẫn còn một số vấn đề cần chú ý.
Tăng trưởng giữa các khu vực kinh tế chưa thật sự đồng đều. Một số ngành, lĩnh vực có quy mô lớn tuy duy trì mức tăng so với cùng kỳ nhưng tốc độ tăng chưa tương xứng với yêu cầu tăng trưởng cao của cả năm. Sản xuất công nghiệp tiếp tục phục hồi, nhiều sản phẩm chủ yếu tăng khá; tuy nhiên, mức tăng của một số sản phẩm còn thấp, chưa đồng đều giữa các nhóm ngành.
Trong lĩnh vực xây dựng và đầu tư phát triển, giá trị sản xuất xây dựng và vốn đầu tư toàn xã hội tiếp tục tăng, song tiến độ thực hiện một số công trình, dự án trọng điểm còn phụ thuộc nhiều vào công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, đất rừng, thủ tục đầu tư và biến động giá nguyên vật liệu xây dựng. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý 6 tháng đạt 22,57% kế hoạch năm, cho thấy khối lượng cần thực hiện trong các tháng cuối năm còn lớn.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, mặc dù sản xuất cơ bản ổn định, nhưng vẫn tiềm ẩn rủi ro do dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi, biến động giá vật tư đầu vào, chi phí vận chuyển và thời tiết bất thường. Một số cây trồng như điều, chè giảm diện tích hoặc sản lượng so với cùng kỳ; dịch tả lợn Châu Phi còn phát sinh tại một số địa bàn; tình hình vi phạm lâm luật, phá rừng và cháy rừng tăng so với cùng kỳ. Thiên tai, mưa dông, lốc, cháy nổ, tai nạn giao thông, bệnh tay chân miệng và một số dịch bệnh truyền nhiễm vẫn cần được theo dõi chặt chẽ, không để phát sinh thành điểm nóng ảnh hưởng đến đời sống Nhân dân và hoạt động sản xuất kinh doanh./.
THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG
TIN TỨC CÙNG LOẠI KHÁC:
Trang:
/