Tình hình kinh tế - xã hội tháng 6, quý II và 6 tháng đầu năm 2026 tỉnh Lâm Đồng
Tháng 6, quý II và 6 tháng đầu năm 2026, trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động, chi phí đầu vào chịu áp lực tăng, tỉnh Lâm Đồng tiếp tục tập trung chỉ đạo phục hồi sản xuất, thúc đẩy đầu tư, thương mại, dịch vụ, du lịch và bảo đảm an sinh xã hội. Nhìn chung, kinh tế - xã hội duy trì đà tăng trưởng khá; quý II có chuyển biến tích cực hơn quý I, song một số lĩnh vực vẫn tăng chưa tương xứng với kịch bản điều hành, nhất là xây dựng, một số sản phẩm công nghiệp, vận tải hành khách, thu nhà đất và tiến độ chuyển hóa vốn đầu tư thành khối lượng thực hiện. Tình hình cụ thể như sau:
I. Tăng trưởng kinh tế
Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) quý II/2026 tăng trưởng tích cực, ước tăng 9,22% so với cùng kỳ năm trước; tính chung 6 tháng đầu năm 2026, GRDP tăng 7,90%. Kết quả này cho thấy đà phục hồi và phát triển của nền kinh tế tiếp tục được củng cố, trong đó cả ba khu vực kinh tế đều duy trì mức tăng khá. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 5,05%, đóng góp 1,18 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,43%, đóng góp 2,30 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 9,17%, tiếp tục là động lực tăng trưởng chủ yếu, đóng góp 4,00 điểm phần trăm.
Đối với khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, sản xuất nông nghiệp tiếp tục giữ vai trò nền tảng, duy trì tăng trưởng ổn định trong bối cảnh còn chịu tác động của thời tiết, thị trường và dịch bệnh. Giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp 6 tháng đầu năm 2026 tăng 5,15% so với cùng kỳ, đóng góp 1,00 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Ngành lâm nghiệp tăng 4,54%, tuy nhiên do chiếm tỷ trọng thấp nên đóng góp 0,03 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 4,49%, đóng góp 0,14 điểm phần trăm.
Khu vực công nghiệp và xây dựng đạt mức tăng khá, trong đó công nghiệp tiếp tục là một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng. Giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp 6 tháng đầu năm 2026 tăng 7,81% so với cùng kỳ, đóng góp 1,72 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế. Đáng chú ý, công nghiệp khai khoáng và công nghiệp chế biến, chế tạo tăng cao, lần lượt đạt 17,67% và 16,76%, đóng góp tương ứng 0,10 và 0,98 điểm phần trăm. Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 4,09%, đóng góp 0,62 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,58%, đóng góp 0,02 điểm phần trăm.
Khu vực dịch vụ tiếp tục phục hồi mạnh trong 6 tháng đầu năm 2026. Giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ tăng 9,17% so với cùng kỳ, nhờ hoạt động thương mại, vận tải, du lịch và các dịch vụ phục vụ tiêu dùng tiếp tục khởi sắc. Trong đó, ngành bán buôn và bán lẻ tăng 11,34%, đóng góp 1,21 điểm phần trăm; vận tải, kho bãi tăng 14,81%, đóng góp 0,45 điểm phần trăm; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 13,40%, đóng góp 0,93 điểm phần trăm; thông tin và truyền thông tăng 7,35%, đóng góp 0,20 điểm phần trăm. Một số ngành dịch vụ khác cũng đạt mức tăng khá góp phần củng cố xu hướng phục hồi và mở rộng của khu vực dịch vụ.
II. Nông, lâm nghiệp và thủy sản
Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục giữ vai trò ổn định của nền kinh tế. Trồng trọt duy trì nhịp tăng nhờ thời tiết cơ bản thuận lợi, nguồn nước phục vụ sản xuất được bảo đảm; chăn nuôi tăng khá, nhất là lợn và gia cầm; thủy sản khai thác và sản xuất tôm giống tiếp tục phát huy lợi thế. Tuy nhiên, khu vực này vẫn chịu sức ép từ chi phí vật tư, nhiên liệu, dịch bệnh cây trồng, vật nuôi và biến động giá một số nông sản chủ lực.
1. Trồng trọt
1.1. Cây hàng năm
- Kết quả sản xuất vụ Đông xuân: Tổng diện tích gieo trồng ước đạt 106.482 ha, tăng 0,82% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, cây lương thực ước đạt 61.950 ha, tăng 1,02% (lúa diện tích ước đạt 55.400 ha, tăng 0,16%, năng suất ước đạt 66,79 tạ/ha, tăng 0,65 tạ/ha; sản lượng ước đạt 370.000 tấn, tăng 1,14%; ngô diện tích ước đạt 6.550 ha, tăng 9,0%, năng suất ước đạt 74,81 tạ/ha, tăng 2,14 tạ/ha; sản lượng ước đạt 49.000 tấn, tăng 12,21%). Nhóm cây chất bột diện tích ước đạt 3.670,3 ha, tăng 0,68% so với cùng kỳ năm trước (tăng chủ yếu ở cây khoai sọ, khoai môn). Nhóm cây có hạt chứa dầu, chủ yếu là cây đậu phộng, diện tích gieo trồng ước đạt 1.360,7 ha, tăng 0,42% so với cùng kỳ năm trước; năng suất ước đạt 22,78 tạ/ha, tăng 0,40 tạ/ha; sản lượng ước đạt 3.100 tấn, tăng 2,21%. Nhóm cây rau, đậu các loại và hoa diện tích gieo trồng ước đạt 34.000 ha, tăng 1,0% so với cùng kỳ năm trước (trong đó: diện tích rau các loại 27.000 ha, tăng 1,02%; năng suất ước đạt 337,04 tạ/ha, tăng 10,65 tạ/ha, sản lượng ước đạt 910.000 tấn, tăng 4,31%). Đã chuyển đổi 3.987,6 ha đất lúa kém hiệu quả sang trồng các cây ngắn ngày khác góp phần nâng hiệu quả sử dụng đất, tiết kiệm nước tưới và hạn chế sâu bệnh.
- Tiến độ sản xuất vụ Hè thu: Mùa mưa đến sớm, lượng mưa phân bổ tương đối đều tạo điều kiện để nông dân xuống giống sớm. Ước đến ngày 15/6/2025 toàn tỉnh xuống giống vụ Hè thu đạt 45.501 ha, tăng 6,65% so với cùng kỳ năm trước, trong đó lúa diện tích đạt 9.495 ha, tăng 3,14%; ngô diện tích đạt 8.830 ha, giảm 1,84%; cây lang diện tích đạt 1.779 ha, tăng 6,55%; đậu phộng diện tích đạt 1.745 ha, tăng 6,10%; cây rau các loại diện tích đạt 13.270 ha, tăng 13,26%; cây đậu các loại diện tích đạt 1.391 ha, tăng 6,3%.

1.2. Cây lâu năm
Tổng diện tích cây lâu năm hiện có ước đạt 635.258 ha, tăng 0,54% so với cùng kỳ. Cơ cấu cây lâu năm tiếp tục dịch chuyển theo hướng nâng tỷ trọng cây có giá trị kinh tế cao như cà phê, sầu riêng, hồ tiêu, dâu tằm; trong khi một số cây hiệu quả thấp hoặc già cỗi như điều, chè tiếp tục giảm diện tích. Một số cây chủ lực có diễn biến như sau:
- Cây cà phê: Diện tích hiện có 329.488 ha, tăng 1,29% so với cùng kỳ năm trước; hiện giá cà phê đang duy trì ở mức cao nên người dân tập trung chăm sóc, tỉa cành, làm cỏ,...;
- Cây cao su: Diện tích hiện có 75.375 ha, tăng 2,94% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thu hoạch 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 31.182,5 tấn, tăng 5,55%. Diện tích cao su trồng mới có khả năng tiếp tục tăng nhưng với tốc độ chậm, do nông dân vẫn còn thận trọng trước những biến động về giá cả và chi phí đầu tư;
- Cây điều: Diện tích điều hiện có 45.715 ha, giảm 7,6% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thu hoạch 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 36.183,9 tấn, giảm 7,48%. Diện tích điều tiếp tục có xu hướng giảm so với cùng kỳ do người dân chuyển sang trồng mới các loại cây có hiệu quả kinh tế vượt trội hơn như cà phê, sầu riêng, chanh leo, dâu tằm,…;
- Cây sầu riêng: Diện tích hiện có 44.246 ha, tăng 4,25% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thu hoạch 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 126.745 tấn, tăng 12,74%; sản lượng tăng cao so với cùng kỳ do diện tích cho thu hoạch tăng;
- Cây hồ tiêu: Diện tích hiện có 37.673 ha, tăng 1,31% so với cùng kỳ năm trước; hiện đã hoàn tất thu hoạch vụ tiêu năm 2025-2026, sản lượng thu hoạch ước đạt 94.193 tấn, tăng 5,65%. Giá hồ tiêu duy trì ở mức khá cao trong những tháng đầu năm 2026, đây là động lực giúp người nông dân tái đầu tư và chăm sóc vườn cây tốt hơn;
- Cây thanh long: Diện tích hiện có 25.851 ha, giảm 0,5% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thu hoạch 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 345.655 tấn, tăng 0,88%. “Đề án phát triển bền vững cây thanh long đến năm 2030” tạo định hướng rõ ràng phát triển cây thanh long theo hướng nâng cao chất lượng sản phẩm. Thanh long Lâm Đồng đã được Liên minh châu Âu EU bảo hộ chỉ dẫn địa lý và thương hiệu được bảo hộ tại nhiều quốc gia, xu hướng tiêu dùng nông sản sạch, truy xuất nguồn gốc tiếp tục mở ra cơ hội xuất khẩu;
- Cây chè: Diện tích hiện có 9.184 ha, giảm 2,55% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thu hoạch 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 48.331 tấn, giảm 4,02%. Diện tích chè giảm do người dân chuyển đổi một số diện tích chè già cỗi, sản xuất theo truyền thống trước đây hiệu quả kinh tế thấp sang cây cà phê, sầu riêng, chanh leo,...;
- Cây dâu tằm: Diện tích hiện có 11.150 ha, tăng 1,36% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thu hoạch 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 147.790 tấn, tăng 4,46%. Những năm gần đây việc chuyển đổi giống cho năng suất cao, ít sâu bệnh như VA-201, S7-CB, TPL 03 và TPL 05 phù hợp điều kiện thổ nhưỡng, năng suất cao và khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, bên cạnh đó giá kén tằm ổn định người dân tích cực đầu tư chăm bón, mở rộng diện tích.
1.3. Tình hình thủy lợi phục vụ sản xuất
Nguồn nước phục vụ sản xuất vụ Đông Xuân 2025 - 2026, vụ Hè Thu năm 2026 và nhu cầu dân sinh được theo dõi, điều tiết thường xuyên. Đến ngày 02/6/2026, tổng diện tích được cấp nước tưới từ nguồn nước thủy lợi, thủy điện đạt 34.094 ha (đạt 30,8% diện tích sản xuất nông nghiệp). Công tác kiểm tra an toàn hồ, đập, cảnh báo vùng hạ du và xử lý nguy cơ sạt lở được tăng cường, góp phần giảm rủi ro trong mùa mưa.
1.4. Tình hình dịch bệnh
Trong 6 tháng đầu năm 2026, dịch bệnh trên cây trồng nhìn chung được kiểm soát, song vẫn xuất hiện cục bộ trên một số cây trồng chủ lực: Sầu riêng, bệnh xì mủ, thối rể gây hại 2.164 ha (108 ha nhiễm nặng); Điều, bọ xít muỗi gây hại 3.931 ha, bệnh thán thư gây hại 3.043 ha; Dâu tằm, bệnh tuyến trùng gây hại 119 ha; Cà phê chè, bọ xít muỗi gây hại 2.229 ha; Cà chua, sâu đục lá Nam Mỹ gây hại 1,7 ha, bệnh xoăn lá virus gây hại 103 ha; Lúa, bệnh đạo ôn lá gây hại 465 ha, ốc bươu vàng gây hại 544 ha, sâu đục thân gây hại 245 ha; Thanh long, bệnh đốm nâu gây hại 1.717 ha, bệnh thán thư cành, quả gây hại 208 ha, ốc sên gây hại 156 ha.
2. Chăn nuôi
Chăn nuôi tiếp tục là điểm sáng của khu vực nông nghiệp. Tổng đàn gia súc, gia cầm tăng so với cùng kỳ, nguồn cung thịt, trứng, sữa cơ bản bảo đảm cho thị trường. Sản lượng thịt hơi các loại tháng 6 ước đạt 23.525,1 tấn, tăng 11,96%; quý II đạt 92.044,9 tấn, tăng 9,54%; lũy kế 6 tháng đạt 185.269 tấn, tăng 9,69%. Kết quả này chủ yếu nhờ chăn nuôi trang trại, liên kết với doanh nghiệp và công tác phòng, chống dịch bệnh được chú trọng.
- Đàn trâu: Tổng đàn hiện có 26,5 nghìn con, tăng 0,28% so với cùng kỳ. Quy mô đàn trâu tương đối ổn định nhờ người dân tận dụng các vùng chăn thả và nguồn phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn. Tuy nhiên, tốc độ tăng đàn còn chậm do hiệu quả kinh tế chưa cao, thời gian sinh trưởng dài và diện tích đồng cỏ tự nhiên ngày càng thu hẹp.
- Đàn bò: Tổng đàn hiện có 319,4 nghìn con, tăng 2,87% so với cùng kỳ (trong đó đàn bò sữa 31,0 nghìn con, tăng 0,58%). Quy mô đàn bò tiếp tục tăng nhờ công tác cải tạo giống, mở rộng diện tích đồng cỏ, tận dụng nguồn phụ phẩm nông nghiệp và duy trì các chuỗi liên kết tiêu thụ sản phẩm, đặc biệt đối với chăn nuôi bò sữa.
- Đàn lợn: Tổng đàn hiện có 1.541,5 nghìn con, tăng 5,43% so với cùng kỳ (không bao gồm lợn con chưa tách mẹ có 1.259,4 nghìn con, tăng 5,48%). Quy mô đàn lợn tăng khá nhờ chăn nuôi trang trại phát triển, các mô hình liên kết sản xuất với doanh nghiệp tiếp tục được mở rộng, công tác phòng chống dịch bệnh được tăng cường và giá lợn hơi duy trì ở mức có lợi cho người chăn nuôi. Bên cạnh đó, nhu cầu tiêu thụ lợn thịt của các doanh nghiệp chế biến, cơ sở giết mổ và thị trường trong nước tăng, tạo đầu ra ổn định cho sản phẩm chăn nuôi. Trước triển vọng thị trường thuận lợi, nhiều doanh nghiệp và trang trại đã chủ động tăng quy mô đàn, tái đàn và đầu tư mở rộng sản xuất, góp phần thúc đẩy tổng đàn lợn trên địa bàn tỉnh tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm trước (Công ty TNHH Việt Hoàng T&T tăng từ 7,07 nghìn con lên 23 nghìn con; Công ty TNHH Bách Minh tăng từ 4,1 nghìn con lên 6,57 nghìn con; Công ty TNHH Khang Thọ, Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam - Chi nhánh Lâm Đồng, Công ty Chăn nuôi Duy Ngọc Đạ Huoai đều có quy mô đàn tăng từ 0,5 đến dưới 2,0 nghìn con so với cùng kỳ năm trước).
- Đàn gia cầm: Tổng đàn hiện có 23.600 nghìn con, tăng 8,69% so với cùng kỳ (trong đó gà các loại 16.337 nghìn con, chiếm 69,22% trong tổng đàn gia cầm, tăng 8,46%). Quy mô đàn gia cầm tăng nhờ nhu cầu tiêu thụ thịt và trứng ổn định, thời gian quay vòng vốn nhanh, khả năng thích ứng linh hoạt với thị trường, cùng với việc áp dụng các biện pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi.

* Các hoạt động phòng, chống dịch bệnh
- Đối với bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Trong tháng, dịch bệnh phát sinh tại 01 hộ trên địa bàn xã Đức An, đã tiêu hủy 800 con/43,33 tấn. Lũy kế từ 01/01/2026 đến nay, toàn tỉnh đã tiêu hủy 14.877 con lợn mắc bệnh với tổng trọng lượng 744,01 tấn; đến nay còn 03 xã có ổ dịch chưa qua 21 ngày.
- Công tác phòng, chống dịch bệnh: Trong tháng, công tác phòng, chống dịch bệnh trên đàn vật nuôi được triển khai đồng bộ, hiệu quả (đã phân bổ bổ sung 15.000 liều vắc xin phòng bệnh Cúm gia cầm cho xã Nam Ban để triển khai tiêm phòng, nâng cao khả năng miễn dịch cho đàn gia cầm). Các dịch bệnh nguy hiểm trên vật nuôi như: Dại, tai xanh, Lở mồm long móng, Tụ huyết trùng, cúm gia cầm không xảy ra. Công tác kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật xuất, nhập tỉnh được duy trì thực hiện theo đúng quy định; công tác kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y tiếp tục được tăng cường.
3. Sản xuất lâm nghiệp
Trong tháng, diện tích trồng rừng ước đạt 2.221 ha, tăng 5,54% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 4.226 ha, tăng 5,2%; diện tích trồng cây phân tán ước đạt 5,6 triệu cây, tăng 3,36% so với cùng kỳ.
- Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 42.705 m3, tăng 4,94% so với cùng kỳ năm trước; quý II/2026, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 129.224 m3, tăng 5,02%, lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 233.289 m3, tăng 3,89%.
- Sản lượng củi khai thác trong tháng ước đạt 30.123 ste, tăng 1,83% so với cùng kỳ năm trước; quý II/2026, sản lượng củi khai thác ước đạt 86.622 ste, tăng 1,84%; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, sản lượng củi khai thác ước đạt 180.081 ste, tăng 1,98%.
- Tổng số vụ vi phạm lâm luật trong tháng (từ 10/5/2026 - 10/6/2026) là 60 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 31 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 5,3 ha); so với cùng kỳ, số vụ vi phạm tăng 15 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật tăng 20 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 4,3 ha). Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 (từ 10/12/2025 - 10/6/2026), tổng số vụ vi phạm là 300 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 136 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 22,7 ha); so với cùng kỳ, số vụ vi phạm tăng 42 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật tăng 34 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 5,9 ha).
- Công tác phòng, chống cháy rừng: Trong 6 tháng đầu năm 2026, tỉnh đã triển khai thực hiện công tác phòng cháy, chữa cháy rừng mùa khô năm 2026, tập trung theo dõi và thông báo kịp thời cấp dự báo cháy rừng trên địa bàn các xã, phường; cập nhật kịp thời thông tin dự báo, cảnh báo nguy cơ cháy rừng để kiểm tra, xác minh và xử lý; rà soát, xác định các khu vực trọng điểm có nguy cơ cháy rừng cao trên địa bàn; tổ chức trực và canh gác tại các khu rừng có nguy cơ cháy rừng cao khi dự báo cháy rừng cấp III, IV, V. Trong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 02 vụ cháy rừng, diện tích rừng bị thiệt hại 1,1 ha; so với cùng kỳ, số vụ cháy rừng tăng 02 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 1,1 ha. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, đã xảy ra 08 vụ cháy rừng, gây thiệt hại 2,9 ha rừng; so với cùng kỳ, số vụ cháy rừng tăng 03 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 1,7 ha.
4. Thủy sản
- Nuôi trồng thủy sản: Diện tích nuôi trồng tháng 6 ước đạt 487,8 ha, tăng 1,59% so với cùng kỳ; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 2.873,4 ha, tăng 1,43% (trong đó diện tích nuôi cá đạt 2.581,6 ha, tăng 1,25%; diện tích nuôi tôm đạt 269,1 ha, tăng 3,46%). Sản lượng nuôi trồng trong tháng ước đạt 2.305,3 tấn, giảm 0,7% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 395 tấn, tăng 10,92%); quý II/2026 ước đạt 6.934,1 tấn, giảm 0,16% (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 1.160,7 tấn, tăng 6,23%); lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 13.890 tấn, tăng 0,45% (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 2.311,2 tấn, tăng 4,95%)
- Khai thác thủy sản: Những tháng đầu năm, tình hình thời tiết và ngư trường tương đối thuận lợi, tàu thuyền bám biển hoạt động khai thác ổn định; nguồn lợi cá cơm, cá nục xuất hiện khá dày tạo điều kiện cho một số nghề như lưới kéo, vây rút chì, lưới rê, mành. Ngư trường khai thác chủ yếu tập trung tại vùng lộng trong tỉnh, khu vực phía nam đảo Phú Quý, đảo Côn Sơn, quần đảo Trường Sa, nhà giàn DK-1. Sản lượng khai thác thủy sản trong tháng ước đạt 25.660 tấn, tăng 3,04% so với cùng kỳ năm trước (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 25.560 tấn, tăng 2,84%); quý II/2026 ước đạt 66.843,5 tấn, tăng 3,1% (sản lượng khai thác biển đạt 66.578,5 tấn, tăng 2,92%); lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 120.113,5 tấn, tăng 3,29% (sản lượng khai thác biển đạt 119.700,2 tấn, tăng 3,19%).

- Sản xuất giống thủy sản: Trong tháng, thời tiết thuận lợi cho việc sản xuất tôm giống, sản lượng tôm giống ước đạt 2,8 tỷ post, tăng 32,06% so với cùng kỳ năm trước; quý II/2026 ước đạt 7,3 tỷ post, tăng 17,2%; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 13,2 tỷ post, tăng 10,01%.
5. Công tác ứng dụng khoa học công nghệ, khuyến nông vào sản xuất
Trong 6 tháng đầu năm 2026, công tác đào tạo, tập huấn chuyển giao khoa học công nghệ, khuyến nông tiếp tục được đẩy mạnh và mang lại hiệu quả tích cực (đã triển khai 12 lớp tập huấn); Công tác thông tin tuyên truyền khuyến nông tiếp tục được quan tâm thực hiện thường xuyên. Ngành chức năng tiếp tục theo dõi, thực hiện 07 mô hình chuyển tiếp từ năm 2025 và triển khai thực hiện 13 mô hình mới. Sản xuất an toàn bền vững tiếp tục được quan tâm đẩy mạnh; diện tích sản xuất được chứng nhận an toàn bền vững ngày càng được mở rộng; đến nay, toàn tỉnh hiện có trên 154.375 ha được chứng nhận sản xuất an toàn bền vững (trong đó, diện tích VietGAP, GlobalGAP đạt 23.800 ha, diện tích hữu cơ đạt 4.075 ha, diện tích cà phê chứng nhận 4C, UTZ/Rainforest… đạt 126.500 ha).
6. Chương trình xây dựng nông thôn mới
Trong 6 tháng đầu năm 2026, tập trung triển khai các Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030. Tiếp tục theo dõi hoạt động kinh tế trang trại, kinh tế hợp tác và hợp tác xã (HTX); Tập trung phát triển, củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của các HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh; Công tác hỗ trợ HTX, đào tạo cán bộ, đặc biệt về kỹ năng thị trường và Luật HTX được chú trọng (đã tổ chức 01 lớp tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý, thành viên của các tổ chức kinh tế tập thể, HTX nông nghiệp). Toàn tỉnh hiện có 08 Liên hiệp HTX nông nghiệp đang hoạt động theo Luật HTX năm 2023 với 45 HTX thành viên và 959 HTX nông nghiệp với 19.582 thành viên (trong đó 166 HTX ngừng hoạt động); có 1.290 Tổ hợp tác (các Tổ hợp tác hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi) và 1.448 trang trại (trong đó, có 1.410 trang trại đang hoạt động, 38 trang trại ngừng hoạt động).
Hoạt động liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm được đẩy mạnh với 428 chuỗi liên kết, thu hút 47.590 hộ tham gia; diện tích liên kết trong trồng trọt đạt khoảng 85 nghìn ha, sản lượng khoảng 920 nghìn tấn/năm; tổng đàn vật nuôi đạt 2.230 nghìn con, sản lượng khoảng 210 nghìn tấn/năm. Chương trình OCOP tiếp tục được triển khai hiệu quả với 936 sản phẩm còn hạn chứng nhận, trong đó có 88 sản phẩm 4 sao và 848 sản phẩm 3 sao, với 526 chủ thể tham gia.
III. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển
1. Công nghiệp
Sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh ước tháng 6, quý II và 6 tháng đầu năm 2026 duy trì đà tăng trưởng khá. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng toàn ngành, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế địa phương. Nhiều nhóm sản phẩm chủ lực đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước, thể hiện sự phục hồi và phát triển tích cực của ngành công nghiệp tỉnh.
1.1. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp
Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng ước tăng 24,68% so với cùng kỳ năm trước, quý II/2026 tăng 24,87% so với quý trước và tăng 13,37% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 16,98%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 17,04%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 11,63%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,29%.
Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 19,02%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 16,92%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 5,68%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,05%.

1.2. Một số sản phẩm chủ yếu
- Sản phẩm đá xây dựng: Trong tháng sản lượng sản xuất ước đạt 388.861 m3, giảm 1,21% so với tháng trước và tăng 7,46% so với cùng kỳ. Quý II/2026 sản lượng sản xuất ước đạt 1.226.079 m3, tăng 17,57% so với cùng kỳ. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 2.136.985 m3, tăng 19,15% so với cùng kỳ. Tăng mạnh so với cùng kỳ do các doanh nghiệp chủ động nguồn nguyên vật liệu để phục vụ các công trình xây dựng trong điều kiện tỉnh đang chỉ đạo tập trung giải ngân vốn đầu tư công cũng như các hạng mục công trình xây dựng khác đang đầu tư tại tỉnh.
- Các sản phẩm từ thuỷ sản: Ước trong tháng sản lượng ước đạt 2.205 tấn, tăng 2,31% so với tháng trước và tăng 27,90% so với cùng kỳ. Quý II/2026 sản lượng sản xuất ước đạt 6.192 tấn, tăng 12,56% so với cùng kỳ; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 12.183 tấn, tăng 19,12% so với cùng kỳ. Các doanh nghiệp tập trung sản xuất khi mùa khai thác thủy hải sản đang thuận lợi, chủ động nguồn hàng cho các tháng tiếp theo.
- Sản phẩm rau, quả qua chế biến: Trong tháng ước đạt 4.851 tấn, tăng 16,98% so với tháng trước và tăng 29,71% so với cùng kỳ. Quý II/2026 sản lượng sản xuất ước đạt 12.539 tấn, tăng 20,79% so với cùng kỳ; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 21.431 tấn, tăng 15,38% so với cùng kỳ, một số doanh nghiệp đã đưa được sản phẩm vào siêu thị và mở rộng quy mô sản xuất phục vụ đơn đặt hàng tăng mới xuất khẩu qua một số nước trong khu vực ASEAN.
- Đồ uống các loại: Ước trong tháng đạt 21.440 nghìn lít, tăng 3,22% so với tháng trước và tăng 26,07% so với cùng kỳ. Quý II/2026 sản lượng sản xuất ước đạt 60.363 nghìn lít, tăng 18,92% so với cùng kỳ; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 124.131 nghìn lít, tăng 16,80% so với cùng kỳ, các sản phẩm rượu vang đang có xu hướng tiêu dùng ngày càng cao.
- Sản phẩm giày, dép: Trong tháng ước sản lượng đạt 850 nghìn đôi, tăng 12,38% so với tháng trước và tăng 146,69% so với cùng kỳ. Quý II/2026 sản lượng sản xuất ước đạt 2.242 nghìn đôi, tăng 29,52% so với cùng kỳ; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 3.799 nghìn đôi, tăng 29,21% so với cùng kỳ, nguyên nhân là do doanh nghiệp nhận thêm đơn hàng ngay từ các tháng đầu năm và đến nay vẫn duy trì tốc độ tăng đáng kể.
- Sản phẩm phân bón: Trong tháng ước sản lượng sản xuất đạt 12.896 tấn tăng 9,20% so với tháng trước và tăng 1,77% so với cùng kỳ. Quý II/2026 sản lượng sản xuất ước đạt 30.586 tấn, giảm 2,75% so với cùng kỳ; lũy kế 6 tháng ước đạt 65.614 tấn, tăng 20,65% so với cùng kỳ nguyên nhân do các doanh nghiệp đã chủ động nguồn hàng để chuẩn bị cho mùa vụ 2026.
- Sản phẩm Ôxit nhôm: Ước trong tháng 135,3 nghìn tấn, tăng 1,12% so với tháng trước và tăng 10,83%% so với cùng kỳ. Quý II/2026 sản lượng sản xuất ước đạt 388,1 nghìn tấn, tăng 5,24% so với cùng kỳ, lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 789,9 nghìn tấn tăng 2,53% so với cùng kỳ.
- Điện sản xuất: Trong tháng ước đạt 3.380 triệu kwh, giảm 0,79% so với tháng trước và tăng 26,54% so với cùng kỳ. Quý II/2026 sản lượng sản xuất ước đạt 10.341 triệu kwh, tăng 11,30% so với cùng kỳ; lũy kế 6 tháng ước đạt 18.079 triệu kwh, tăng 5,26% so với cùng kỳ.
- Điện thương phẩm: Trong tháng ước đạt 482 triệu kwh, giảm 4,27% so với tháng trước và tăng 16,21% so với cùng kỳ. Quý II/2026 ước đạt 1.526 triệu kwh tăng 13,96% so với cùng kỳ; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 3.016 triệu kwh, tăng 8,93% so với sùng kỳ. Các chương trình khuyến khích và ý thức tiết kiệm điện của người dân và doanh nghiệp được nâng cao cũng có thể góp phần làm chậm tốc độ tăng trưởng tiêu thụ điện; ngoài ra nhiều hộ dân, cơ sở kinh doanh, doanh nghiệp sử dụng một phần điện năng lượng mặt trời tự sản xuất, tự tiêu dùng.
1.3. Chỉ số sử dụng lao động
Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng 1,34% so với tháng trước và tăng 7,42% so cùng kỳ; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng giảm 12,7%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,55%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,49%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 1,34%. Theo loại hình doanh nghiệp, chỉ số sử dụng lao động trong tháng của khối doanh nghiệp nhà nước tăng 7,54% so với cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 12,05%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm 5,66%.
Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, chỉ số sử dụng lao động tăng 5,96%; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng giảm 3,48%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,22%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,33%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,38%.
Chỉ số sử dụng lao động tăng cho thấy các doanh nghiệp có nhu cầu mở rộng sản xuất, nhất là trong công nghiệp chế biến, chế tạo. Tuy nhiên, lao động trong khai khoáng và cung cấp nước, xử lý rác thải còn giảm; đồng thời kết quả khảo sát doanh nghiệp cho thấy khó tuyển dụng lao động theo yêu cầu vẫn là một trong những khó khăn đáng chú ý, cần được theo dõi trong thời gian tới.
1.4. Chỉ số tiêu thụ
Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tháng ước tăng 11,77% so với tháng trước và tăng 12,35% so với cùng kỳ; lũy kế quý II/2026 chỉ số tiêu thụ giảm 1,43% so với cùng kỳ. Các ngành có chỉ số tiêu thụ tăng trong tháng như: sản xuất thực phẩm tăng 30,45%; sản xuất đồ uống tăng 28,25%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 36,73%; chế biến gỗ tăng 48,89%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 76,47%; in và sao chép bản ghi các loại tăng 26,13%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 11,15%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 17,99%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 8,63%; sản xuất kim loại tăng 3,08%; sản xuất máy móc thiết bị chưa phân vào đâu tăng 88,93%. Các ngành có chỉ số tiêu thụ giảm như: ngành dệt giảm 5,73%; sản xuất trang phục giảm 45,18%...
Chỉ số tiêu thụ tăng trong tháng là tín hiệu tích cực, nhưng quý II vẫn giảm 1,43% so với cùng kỳ, phản ánh sức mua và đơn hàng chưa đồng đều giữa các ngành. Các ngành thực phẩm, đồ uống, da giày, gỗ, giấy, hóa chất, cao su - plastic tăng tiêu thụ; ngược lại, dệt và sản xuất trang phục còn giảm, cho thấy rủi ro thị trường đang chịu ảnh hưởng của những biến động chưa tích cực từ tình hình kinh tế thế giới.
1.5. Chỉ số tồn kho
Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tháng ước giảm 14,52% so với tháng trước và giảm 21,4% so với cùng kỳ, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho giảm so cùng kỳ: sản xuất chế biến thực phẩm giảm 23,29%; sản xuất đồ uống giảm 26,68%; dệt giảm 77,93%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy giảm 29,52%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 56,35%… Ngược lại những ngành tăng như: sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 54,23%; Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 9,66%.
1.6. Tình hình xu hướng sản xuất kinh doanh ngành chế biến, chế tạo
Sản xuất kinh doanh quý II/2026 so với quý trước: Qua khảo sát các doanh nghiệp thuộc ngành chế biến chế tạo cho thấy có 32,14% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh thuận lợi hơn quý trước; 21,43% đánh giá khó khăn hơn và 46,43% số doanh nghiệp cho rằng ổn định, không thay đổi. Theo hình thức sở hữu: Doanh nghiệp nhà nước 12,5% có chiều hướng thuận lợi; 75% có chiều hướng không thay đổi và 12,5% có chiều hướng khó khăn hơn. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh 31,03% có chiều hướng thuận lợi; 45,69% có chiều hướng không thay đổi và 23,28% có chiều hướng khó khăn hơn. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) 50% doanh nghiệp có chiều hướng thuận lợi; 37,5% có chiều hướng không thay đổi và 12,5% có chiều hướng khó khăn hơn.
Trong các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp quý II/2026, có 50,94% doanh nghiệp đánh giá do nhu cầu thị trường trong nước thấp; 26,42% doanh nghiệp cho rằng nhu cầu thị trường quốc tế thấp; 35,85% doanh nghiệp cho rằng tính cạnh tranh trong nước cao; 7,55% doanh nghiệp cho rằng tính cạnh tranh của hàng nhập khẩu cao; 22,64% doanh nghiệp cho rằng thiếu nguyên nhiên vật liệu; 5,66% cho rằng thiếu năng lượng; 33,96% doanh nghiệp cho rằng không tuyển dụng được lao động theo yêu cầu; 28,3% doanh nghiệp cho rằng thiết bị công nghệ lạc hậu; 20,75% doanh nghiệp cho rằng lãi xuất vay vốn cao; 20,75% doanh nghiệp cho rằng do gặp khó khăn về tài chính; 9,43% doanh nghiệp cho rằng không có khả năng tiếp cận nguồn vốn vay; 20,75% doanh nghiệp đánh giá lý do chính sách pháp luật của nhà nước và 3,77% lý do khác.

1.7. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp (KCN)
Trong 6 tháng đầu năm 2026, đã thu hút được 06 dự án đầu tư (trong đó có 01 dự án nước ngoài và 05 dự án trong nước) với tổng vốn đầu tư đăng ký 258,66 tỷ và 0,2 triệu USD, diện tích đất thuê lại 5,18 ha. Các dự án thu hút mới chủ yếu tập trung tại KCN Lộc Sơn và KCN Phú Hội, gồm: Dự án Công ty TNHH Etoile Du Matin của Công ty TNHH Semo Vina, vốn đăng ký 0,2 triệu USD, thuê lại 0,3 ha nhà xưởng tại KCN Lộc Sơn; Nhà máy sản xuất hàng may mặc Bảo Lộc Bảo Lợi Việt Nam, vốn đăng ký 26 tỷ đồng, diện tích 0,3128 ha tại KCN Lộc Sơn; Kho Transimex Phú Hội, vốn đăng ký 98,658 tỷ đồng, diện tích 1,29 ha tại KCN Phú Hội; Nhà máy sản xuất ống nhựa của Công ty TNHH MTV Nhựa Stroman Lâm Đồng, vốn đăng ký 40 tỷ đồng, diện tích 1,3879 ha tại KCN Phú Hội; Nhà máy sản xuất giấy Trường Phát Tâm, vốn đăng ký 14 tỷ đồng, diện tích 1,0887 ha tại KCN Phú Hội; và Nhà máy chế biến nông sản của Công ty Cổ phần Quốc tế Thiên Hà, vốn đăng ký 80 tỷ đồng, diện tích 1,0981 ha tại KCN Phú Hội.
Lũy kế đến nay, các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh có 244 dự án đầu tư, trong đó có 58 dự án FDI và 186 dự án trong nước, với tổng vốn đăng ký 46.728,75 tỷ đồng và 515,132 triệu USD; diện tích đất đăng ký 727,11 ha, tỷ lệ lấp đầy chung đạt 53,88%. Hiện có 175 doanh nghiệp trong các khu công nghiệp đã đi vào hoạt động. Kết quả sản xuất kinh doanh lũy kế đến ngày 30/6/2026 ước đạt 16.520 tỷ đồng doanh thu; kim ngạch xuất khẩu ước đạt 353,8 triệu USD; nộp ngân sách ước đạt 949,5 tỷ đồng.
Về tình hình từng khu công nghiệp:
- KCN Lộc Sơn thu hút được 58 dự án đầu tư (10 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 48 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất đã cho thuê lại 94,8ha/132,6 ha đất công nghiệp cho thuê, tỷ lệ lấp đầy đạt 71,74%;
- KCN Phú Hội thu hút được 34 dự án đầu tư (11 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 23 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê lại 56 ha/74,6 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 75,02%;
- KCN Phan Thiết giai đoạn 1 thu hút được 39 dự án đầu tư (10 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 29 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê 51,4 ha/51,4 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 100%;
- KCN Phan Thiết giai đoạn 2 thu hút được 12 dự án đầu tư (02 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 10 dự án đầu tư có vốn trong nước), với diện tích đất cho thuê 23,01 ha/28,1 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 81,92%;
- KCN Hàm Kiệm I thu hút được 23 dự án đầu tư (08 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 15 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê 60,7 ha/90,8 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 66,82%;
- KCN Hàm Kiệm II thu hút được 18 dự án đầu tư (07 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 11 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê 91,9 ha/276,9 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 33,18%;
- KCN Sông Bình thu hút được 03 dự án đầu tư có vốn trong nước với diện tích đất cho thuê 58,4 ha/202,3 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 28,84%;
- KCN Tân Đức thu hút được 07 dự án đầu tư (02 trong nước và 05 nước ngoài) với diện tích đất cho thuê 31,1 ha/210,8 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 14,75%;
- KCN Tâm Thắng đã thu hút được 49 dự án đầu tư (gồm 05 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 44 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích thuê lại 130,6 ha/134 ha, tỷ lệ lấp đầy 97,11%;
- KCN Nhân Cơ thu hút được 01 dự án với quy mô 129,4 ha, tổng vốn đầu tư đăng ký 18.423 tỷ đồng, tỷ lệ lắp đầy KCN 87,44%;
- Các KCN đang xây dựng, chưa thu hút dự án đầu tư: KCN Tuy Phong; KCN Sơn Mỹ 1; KCN Sơn Mỹ 2; KCN Phú Bình; KCN Nhân Cơ 2.
2. Xây dựng
Hoạt động xây dựng duy trì tăng trưởng, song tốc độ chưa thật sự bứt phá so với yêu cầu tăng trưởng cao. Các dự án hạ tầng giao thông, chỉnh trang đô thị, công trình phục vụ du lịch, dịch vụ và nông nghiệp công nghệ cao tiếp tục tạo khối lượng cho ngành; tuy nhiên, vướng mắc về mặt bằng, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, đất rừng, giá vật liệu và thủ tục dự án vẫn là những yếu tố làm chậm tiến độ thi công, nghiệm thu và thanh toán.
Giá trị sản xuất theo giá hiện hành ngành xây dựng chia theo loại hình quý II/2026 ước đạt 16.492,3 tỷ đồng, tăng 14,87% so cùng kỳ. Trong đó, khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 63 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 0,38%), tăng 75,11% so với cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài Nhà nước ước đạt 8.935,4 tỷ đồng (54,18%), tăng 16,04% so với cùng kỳ; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 176,3 tỷ đồng (1,07%), tăng 19,95% so với cùng kỳ; loại hình kinh tế khác ước đạt 7.317,6 tỷ đồng (44,37%), tăng 13,03% so với cùng kỳ. Ước 6 tháng đầu năm 2026, giá trị sản xuất xây dựng theo giá hiện hành ước đạt 28.653,6 tỷ đồng, tăng 13,68% so cùng kỳ. Trong đó, khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 120,3 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 0,42%), tăng 85,67% so với cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 15.741,8 tỷ đồng (54,94%), tăng 14,40% so với cùng kỳ; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 352,0 tỷ đồng (1,23%), tăng 12,27% so với cùng kỳ; loại hình kinh tế khác ước đạt 12.439,8 tỷ đồng (43,41%), tăng 12,27% so với cùng kỳ.
Chia theo loại công trình, giá trị sản xuất theo giá hiện hành ước quý II/2026 công trình nhà ở đạt 6.578,8 tỷ đồng, tăng 11,55% so với cùng kỳ; công trình nhà không để ở đạt 3.476,3 tỷ đồng, tăng 12,52% so với cùng kỳ; công trình kỹ thuật dân dụng 4.400,3 tỷ đồng, tăng 15,69% so với cùng kỳ; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 2.036,9 tỷ đồng, tăng 29,99% so với cùng kỳ. Ước 6 tháng đầu năm 2026, giá trị sản xuất xây dựng theo giá hiện hành loại công trình nhà ở đạt 11.554,8 tỷ đồng, tăng 10,92% so cùng kỳ; công trình nhà không để ở đạt 5.952,9 tỷ đồng, tăng 11,54% so với cùng kỳ; công trình kỹ thuật dân dụng 7.425,7 tỷ đồng, tăng 13,88%; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 3.720,2 tỷ đồng, tăng 26,92% so với cùng kỳ.
Theo giá so sánh 2010, giá trị sản xuất ngành xây dựng chia theo loại hình ước quý II/2026 đạt 13.139,2 tỷ đồng, tăng 9,72% so cùng kỳ. Trong đó, công trình nhà ở đạt 5.167,2 tỷ đồng, tăng 5,88% so với cùng kỳ; công trình nhà không để ở đạt 2.730,4 tỷ đồng, tăng 6,8% so với cùng kỳ; Công trình kỹ thuật dân dụng 3.456,1 tỷ đồng, tăng 9,81% so với cùng kỳ; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 1.785,6 tỷ đồng, tăng 28,31% so với cùng kỳ. Ước 6 tháng đầu năm 2026, giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá so sánh ước đạt 22.924,9 tỷ đồng, tăng 8,76% so với cùng kỳ. Trong đó, công trình nhà ở đạt 9.107,6 tỷ đồng, tăng 5,4% so với cùng kỳ; công trình nhà không để ở đạt 4.691,6 tỷ đồng, tăng 5,99% so với cùng kỳ; công trình kỹ thuật dân dụng 5.851,9 tỷ đồng, tăng 8,21% so với cùng kỳ; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 3.273,9 tỷ đồng, tăng 25,78% so với cùng kỳ.
Kết quả khảo sát doanh nghiệp xây dựng cho thấy tâm lý thận trọng còn rõ nét. Quý II/2026 so với quý I/2026 có 14,5% doanh nghiệp nhận định thuận lợi hơn, 50,8% ổn định và 34,7% khó khăn hơn; chỉ số cân bằng chung là -20,2%. Dự báo quý III/2026, tỷ lệ doanh nghiệp nhận định khó khăn hơn tăng lên 48%, chỉ số cân bằng chung giảm -35,3%, cho thấy ngành xây dựng cần được hỗ trợ mạnh hơn về mặt bằng, thủ tục, nguồn vật liệu và thanh toán khối lượng.
3. Đầu tư phát triển
Đầu tư phát triển tiếp tục là kênh tạo động lực tăng trưởng quan trọng sau khi tỉnh mở rộng không gian phát triển. Vốn đầu tư toàn xã hội tăng khá, cơ cấu vốn ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng chủ lực, tập trung vào công nghiệp chế biến, khai khoáng, năng lượng, du lịch, nông nghiệp công nghệ cao và hạ tầng. Tuy nhiên, tốc độ thực hiện một số dự án còn chậm, nhất là nhóm dự án liên quan đến bồi thường, giải phóng mặt bằng, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng và thủ tục đất đai.
Trong 6 tháng đầu năm, công tác phân bổ và triển khai vốn cho các dự án hạ tầng trọng điểm, công trình khởi công mới được thực hiện khẩn trương. Tuy nhiên, tiến độ thực hiện của các dự án còn chậm do vướng mắc trong chuyển đổi mục đích sử dụng rừng và bồi thường, giải phóng mặt bằng chưa được xử lý dứt điểm.
3.1. Tình hình thực hiện vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý
Trong tháng, vốn đầu tư thực hiện từ ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 964,78 tỷ đồng, tăng 2,18% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 900,34 tỷ đồng, chiếm 93,32% tổng số vốn trên địa bàn, tăng 2,11% so với cùng kỳ (trong đó: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh, vốn cân đối ngân sách ước đạt 410,57 tỷ đồng, tăng 33,01% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 129,45 tỷ đồng, giảm 49,16% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài đạt 14,21 tỷ đồng, giảm 27,47% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết đạt 340,45 tỷ đồng, tăng 15,13% so với cùng kỳ; vốn khác đạt 5,66 tỷ đồng, tăng 79,54% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 64,44 tỷ đồng, chiếm 6,68% tổng số vốn trên địa bàn, tăng 3,24% so với cùng kỳ.
Quý II/2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 2.628,92 tỷ đồng, tăng 3,96% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 2.451,39 tỷ đồng, chiếm 93,25% tổng số vốn trên địa bàn, tăng 3,90% so với cùng kỳ (trong đó: nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh, vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 1.122,49 tỷ đồng, tăng 49,08% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 349,27 tỷ đồng, giảm 47,10% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài ước đạt 38,68 tỷ đồng, giảm 28,20% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết ước đạt 925,05 tỷ đồng, tăng 4,67% so với cùng kỳ; vốn khác ước đạt 15,90 tỷ đồng, tăng 85,92% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 177,53 tỷ đồng (chiếm 6,75% tổng số vốn trên địa bàn), tăng 4,77% so với cùng kỳ.
Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 4.539,56 tỷ đồng, tăng 4,15% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 4.233,71 tỷ đồng, tăng 4,15% so với cùng kỳ, chiếm 93,26% tổng số vốn trên địa bàn (trong đó: nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh, vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 1.956,99 tỷ đồng, tăng 24,47% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 605,25 tỷ đồng, giảm 46,71% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài ước đạt 68,05 tỷ đồng, giảm 28,28% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết ước đạt 1.576,63 tỷ đồng, tăng 26,42% so với cùng kỳ; vốn khác ước đạt 26,79 tỷ đồng, tăng 77,36% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 305,85 tỷ đồng, chiếm 6,74% tổng số vốn trên địa bàn, tăng 3,24% so với cùng kỳ.
3.2. Tình hình thực hiện vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn
Vốn đầu tư toàn xã hội tiếp tục mở rộng, trong đó vốn ngoài nhà nước giữ vai trò dẫn dắt. Dòng vốn tập trung vào các dự án có khả năng tạo năng lực sản xuất và không gian phát triển mới như Thung lũng Đại dương, Điện phân nhôm Đắk Nông, Nam sông Đa Nhim, các khu công nghiệp Sơn Mỹ 1, Sơn Mỹ 2, cùng nhóm dự án chế biến, logistics và nông nghiệp công nghệ cao. Đây là nguồn lực quan trọng cho tăng trưởng trung hạn, nhưng cần tiếp tục theo dõi khả năng chuyển hóa thành khối lượng thực hiện trong năm 2026.
Quý II/2026, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội ước đạt 29.527,20 tỷ đồng, tăng 31,68% so với quý I/2026 và tăng 15,16% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn nhà nước đạt 4.865,68 tỷ đồng (16,48%), tăng 7,54%; vốn ngoài nhà nước 23.599,76 tỷ đồng (79,69%), tăng 17,03% (vốn của các tổ chức, doanh nghiệp ngoài nhà nước đạt 12.112,12 tỷ đồng, tăng 15,04%; vốn đầu tư của dân cư đạt 11.487,64 tỷ đồng, tăng 19,20%); vốn FDI đạt 1.061,77 tỷ đồng (3,6%), tăng 11,95%. Theo khoản mục đầu tư, vốn xây dựng cơ bản chiếm tỷ trọng cao nhất (22.423,98 tỷ đồng, tăng 16,66%), tiếp đến là vốn sửa chữa, nâng cấp tài sản cố định chiếm 13,75% (4.060,46 tỷ đồng, tăng 11,12%), ...
Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư toàn xã hội đạt 51.950,24 tỷ đồng, tăng 14,38% so với cùng kỳ năm trước. Vốn nhà nước đạt 8.379,9 tỷ đồng (chiếm 16,13%), tăng 6,95%. Vốn ngoài nhà nước đạt 41.688,83 tỷ đồng (41,78%), tăng 16,16% tiếp tục giữ vai trò chủ lực, huy động hiệu quả nguồn xã hội hóa (vốn của tổ chức, doanh nghiệp đạt 21.705,37 tỷ đồng, tăng 15,15%; vốn của dân cư đạt 19.983,46 tỷ đồng, tăng 17,27%). Vốn FDI đạt 1.881,51 tỷ đồng (3,62%), tăng 11,21%, dòng vốn FDI có sự chọn lọc chiến lược, tập trung vào nông nghiệp công nghệ sinh học, chế biến sâu nông sản, logistics và du lịch sinh thái. Theo khoản mục đầu tư, vốn xây dựng cơ bản chiếm tỷ trọng cao nhất 77,1% (40.053,09 tỷ đồng, tăng 16,37%), tiếp đến là vốn sửa chữa, nâng cấp tài sản cố định chiếm 12,74% (6.616,59 tỷ đồng, tăng 7,11%), cùng các khoản mục mua sắm tài sản cố định, bổ sung vốn lưu động và vốn khác đều tăng trưởng.
Kết quả trên cho thấy dòng vốn đầu tư tiếp tục mở rộng, cơ cấu chuyển dịch tích cực, đóng góp quan trọng cho phát triển hạ tầng, công nghiệp chế biến chế tạo và tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Trong tháng (từ ngày 15/5-14/6/2026) toàn tỉnh có 376 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, giảm 25% so với cùng kỳ năm trước; 48 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 24%; 106 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, tăng 6%; 96 doanh nghiệp giải thể, tăng 23%.
Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 2.382 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 58,38% so với cùng kỳ; 556 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 10,76%; 1.191 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, giảm 2,03%; 491 doanh nghiệp giải thể, tăng 71,68% (tương ứng 205 doanh nghiệp). Tổng số vốn đăng ký của doanh nghiệp đạt 11.965,5 tỷ đồng, tăng 34,63%. Bình quân một tháng số lượng doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động cao xấp sỉ 6 lần số doanh nghiệp rút lui (490 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại so với gần 82 doanh nghiệp rút lui). Điều này cho thấy niềm tin kinh doanh có cải thiện; tuy nhiên, số doanh nghiệp giải thể tăng mạnh cũng phản ánh áp lực cạnh tranh, chi phí và khả năng chống chịu của một bộ phận doanh nghiệp còn hạn chế.
Về thu hút đầu tư (tính từ đầu năm đến ngày 18/6/2026), toàn tỉnh có 31 dự án đầu tư cấp mới với tổng vốn đăng ký đầu tư 143.886,6 tỷ đồng; 28 dự án đầu tư được điều chỉnh chủ trương đầu tư/điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Lũy kế đến ngày 18/6/2026, trên địa bàn tỉnh có 2.950 dự án đầu tư còn hiệu lực hoạt động với tổng vốn đầu tư 916.601 tỷ đồng (trong đó: có 245 dự án FDI còn hiệu lực hoạt động, với tổng vốn đăng ký đầu tư đạt 224.958 tỷ đồng).
* Tình hình thực hiện đầu tư xây dựng các công trình trọng điểm
Trong 6 tháng đầu năm 2026, tiến độ triển khai các công trình trọng điểm, dự án đô thị, thương mại và khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng có nhiều chuyển biến tích cực nhờ sự quyết liệt trong tháo gỡ các vướng mắc về thủ tục pháp lý. Tuy nhiên, một số dự án vẫn chậm tiến độ do công tác giải phóng mặt bằng kéo dài và tác động của giá nguyên vật liệu xây dựng tăng cao.
Đối với các dự án hạ tầng giao thông chiến lược, tỉnh đang tập trung triển khai đồng bộ nhiều dự án quy mô lớn. Dự án cao tốc Bắc - Nam phía Tây đoạn Gia Nghĩa - Chơn Thành dài 124,13 km được chia thành 5 dự án thành phần; trong đó tỉnh phụ trách công tác xây dựng đường gom, cầu vượt và thực hiện bồi thường, hỗ trợ tái định cư với tổng kinh phí khoảng 1.000 tỷ đồng. Dự án cao tốc Tân Phú - Bảo Lộc dài khoảng 66 km và dự án cao tốc Bảo Lộc - Liên Khương dài 73,6 km đang hoàn thiện các thủ tục đầu tư, giải phóng mặt bằng và tái định cư. Riêng dự án Bảo Lộc - Liên Khương còn gặp khó khăn do thủ tục chuyển đổi đất rừng, đất lúa và áp lực tăng giá vật liệu xây dựng.
Các dự án giao thông quan trọng khác cũng được triển khai tích cực. Dự án đường sắt tốc độ cao qua địa bàn tỉnh với chiều dài 156,5 km đang thực hiện công tác quản lý hiện trạng, khoanh vùng hành lang và chuẩn bị dữ liệu phục vụ công tác đo đạc, kiểm đếm. Dự án đường ven biển ĐT.719B đoạn Phan Thiết - Kê Gà đã hoàn thành khoảng 92% khối lượng, trong đó đoạn dài 17,8 km từ Quốc lộ 1 đến cầu Suối Nhum đã đưa vào khai thác. Dự án nâng cấp Quốc lộ 28B đạt 99% khối lượng giải phóng mặt bằng.
Lĩnh vực hạ tầng hàng không ghi nhận những bước tiến quan trọng. Dự án Cảng hàng không Phan Thiết (hạng mục hàng không dân dụng) đã hoàn tất bàn giao toàn bộ mặt bằng sạch, sẵn sàng triển khai thi công. Dự án nâng cấp Cảng hàng không Liên Khương với tổng vốn đầu tư gần 5.000 tỷ đồng đang thực hiện công tác đo đạc, kiểm đếm trên 115 ha, đạt 33,8% khối lượng chuẩn bị mặt bằng.
Các dự án thủy lợi tiếp tục được đẩy mạnh nhằm nâng cao năng lực cấp nước phục vụ sản xuất và dân sinh. Dự án hồ chứa nước KaZam đã hoàn thành 91% diện tích giải phóng mặt bằng và đạt khoảng 38% khối lượng xây lắp. Hồ chứa nước Ka Pét đạt 72% khối lượng kiểm đếm, bồi thường và tái định cư. Hệ thống kênh mương hồ Đạ Lây đạt khoảng 62% giá trị xây dựng, trong khi hệ thống kênh mương hồ Đạ Sị đạt 51% khối lượng thực hiện. Dự án hồ Đắk Gang đã hoàn thành 84,5% diện tích bàn giao mặt bằng và đạt khoảng 28% khối lượng xây lắp.
Trong lĩnh vực công nghiệp, Nhà máy điện phân nhôm Đắk Nông với tổng vốn đầu tư trên 28.000 tỷ đồng đã hoàn thành khoảng 82% khối lượng xây lắp và lắp đặt thiết bị. Khu công nghiệp Sơn Mỹ 1 đạt trên 85% công tác giải phóng mặt bằng và khoảng 25% khối lượng hạ tầng kỹ thuật giai đoạn 1. Khu công nghiệp Sơn Mỹ 2 cơ bản hoàn tất công tác chuẩn bị đầu tư và đang triển khai các hạng mục kỹ thuật ban đầu. Khu công nghiệp Tân Đức đã hoàn thành trên 97% công tác giải phóng mặt bằng.
Đối với các dự án phát triển đô thị, Khu đô thị mới Nam sông Đa Nhim quy mô 153,65 ha với tổng vốn đầu tư dự kiến hơn 11.800 tỷ đồng hiện đang tập trung thực hiện công tác giải phóng mặt bằng. Dự án cải thiện môi trường đô thị tại khu vực Đắk Nông cũ đã triển khai đồng loạt các gói thầu xây lắp và đạt trên 75% giá trị hợp đồng.
Nhìn chung, các dự án trọng điểm của tỉnh đang được triển khai theo hướng tích cực, tạo nền tảng quan trọng cho phát triển kết cấu hạ tầng, mở rộng không gian đô thị, thu hút đầu tư và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội của tỉnh trong giai đoạn tới.
IV. Thương mại; giá cả; du lịch; giao thông vận tải
Hoạt động thương mại, dịch vụ và vận tải trên địa bàn tỉnh trong tháng, quý II và 6 tháng đầu năm 2026 tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Sức mua tăng, nguồn cung hàng hóa ổn định, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân; giá bán trên thị trường tương đối ổn định, không xảy ra biến động khan hiếm làm tăng giá đột biến. Hoạt động du lịch diễn ra khá nhộn nhịp, nhiều hoạt động văn hoá, thể thao và nhiều lễ hội khác đã thu hút nhiều du khách. Dịch vụ lữ hành tiếp tục tăng cường; các nhà hàng, cơ sở kinh doanh ăn uống tăng cường phục vụ cho người dân địa phương và du khách. Hoạt động kinh doanh vận tải đường bộ đáp ứng nhu cầu vận chuyển hành khách và hàng hoá trên thị trường kịp thời; vận tải đường thuỷ diễn ra thông suốt phục vụ cho du khách và người dân đảo Phú Quý.
1. Thương mại
1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ
Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ trong tháng đạt 17.324,4 tỷ đồng, tăng 3,51% so với tháng trước và tăng 23,49% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: uớc tổng mức bán lẻ hàng hoá đạt 10.305,5 tỷ đồng, tăng 0,83% so với tháng trước và tăng 20,99% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 3.938,4 tỷ đồng, tăng 14,46% so với tháng trước và tăng 38,03% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 3.080,6 tỷ đồng, tăng 0,15% so với tháng trước và tăng 15,92% so với cùng kỳ năm trước.
Quý II/2026 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ đạt 50.295,5 tỷ đồng, tăng 20,21% so với quý cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hoá đạt 30.655,7 tỷ đồng, tăng 18,44% so với quý cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành đạt 10.451,8 tỷ đồng, tăng 24,67% so với quý cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác đạt 9.188,1 tỷ đồng, tăng 21,36% so với quý cùng kỳ năm trước.
Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ đạt 97.606,7 tỷ đồng, tăng 17,33% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hoá đạt 60.083,8 tỷ đồng, tăng 15,7% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành đạt 19.840 tỷ đồng, tăng 23,91% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác đạt 17.682,9 tỷ đồng, tăng 15,95% so với cùng kỳ năm trước.

1.2. Công tác quản lý thị trường
Công tác quản lý thị trường được tăng cường, tập trung vào xăng dầu, gạo, vật liệu xây dựng, hàng giả, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và gian lận thương mại. Trong tháng, lực lượng chức năng kiểm tra 153 vụ, phát hiện 124 vụ vi phạm, xử lý 112 vụ với tổng số tiền xử phạt 864,5 triệu đồng. Lũy kế từ ngày 15/12/2025 đến 14/6/2026, đã kiểm tra 798 vụ, phát hiện 741 vụ vi phạm, xử lý 720 vụ; số tiền xử phạt 5.741,4 triệu đồng, trị giá hàng hóa vi phạm 2.013,4 triệu đồng. Kết quả này góp phần ổn định thị trường, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và môi trường kinh doanh lành mạnh.
2. Giá cả
2.1. Giá tiêu dùng (CPI)
Chỉ số giá tiêu dùng 6 tháng đầu năm chịu tác động đan xen: một mặt, nguồn cung hàng hóa cơ bản ổn định và điều hành giá xăng dầu góp phần hạn chế biến động đột biến; mặt khác, giá nhà ở, điện nước, vật liệu xây dựng, thực phẩm, giao thông và giáo dục tăng đã tạo áp lực lên mặt bằng giá chung. Vì vậy, kiểm soát giá, nhất là nhóm hàng thiết yếu và chi phí đầu vào, tiếp tục là nhiệm vụ quan trọng trong thời gian tới.
Trong tháng CPI giảm 0,19% so với tháng trước, tăng 0,60% so với tháng 12/2025 và tăng 4,01% so với cùng kỳ năm trước. Mức giảm chủ yếu do nhóm giao thông giảm mạnh 4,51%, trong đó giá xăng giảm 10,05%, dầu diesel giảm 10,62% và dầu hỏa giảm 18,73% theo các kỳ điều hành giá nhiên liệu trong tháng. Bên cạnh đó, giá sách giáo khoa giảm 1,49% làm nhóm giáo dục giảm 0,09%. Tuy nhiên, nhiều nhóm hàng vẫn tăng giá như hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,62%, văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,77%, nhà ở, điện nước và vật liệu xây dựng tăng 0,15% do nhu cầu tiêu dùng mùa hè và chi phí đầu vào tăng.
Bình quân quý II/2026, CPI tăng 4,44% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng chủ yếu đến từ nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 7,33%, làm CPI chung tăng 1,31 điểm phần trăm; nhóm giao thông tăng 9,39%, đóng góp 1,07 điểm phần trăm do giá nhiên liệu tăng 19,02% và giá dịch vụ vận tải hành khách tăng 37,1%. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,76%, nhóm giáo dục tăng 7,20% do điều chỉnh học phí tại một số cơ sở giáo dục ngoài công lập. Trong khi đó, nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,32%, góp phần kiềm chế đà tăng CPI nhờ các chương trình giảm giá thiết bị công nghệ và điện thoại di động.
Bình quân 6 tháng đầu năm 2026, CPI tăng 4,40% so với cùng kỳ năm trước. Các nhóm hàng tác động lớn đến CPI gồm: nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,04%, làm CPI chung tăng 1,08 điểm phần trăm; thực phẩm tăng 4,58%, đóng góp 1,14 điểm phần trăm; giao thông tăng 5,38%, làm CPI tăng 0,61 điểm phần trăm; giáo dục tăng 7,18%, góp phần tăng 0,34 điểm phần trăm. Ngoài ra, nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 4,92%, đồ uống và thuốc lá tăng 3,3%, thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,49%. Nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,27%, góp phần giảm áp lực tăn giá. Nhìn chung, mặt bằng giá 6 tháng đầu năm 2026 chịu tác động chủ yếu từ chi phí nguyên vật liệu đầu vào, giá nhiên liệu, giá nhà ở, vật liệu xây dựng và việc điều chỉnh học phí tại một số cơ sở giáo dục.

2.2. Tình hình biến động giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản; giá sản xuất công nghiệp và giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất
Chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản quý II/2026 tăng 5,93% so cùng kỳ năm trước và 6 tháng đầu năm 2026 tăng 7,68% so cùng kỳ năm trước. Trong 3 nhóm sản phẩm chính các nhóm hàng đều tăng giá so cùng kỳ năm trước: Nhóm sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 5,59%; sản phẩm thủy sản khai thác, nuôi trồng tăng 7,21% và sản phẩm lâm nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 3,76%. Chỉ số giá sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản 6 tháng đầu năm 2026 tăng 7,68% so cùng kỳ năm trước, trong đó tăng cao nhất là nhóm sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 7,47%; tiếp đến là nhóm sản phẩm thủy sản khai thác, nuôi trồng tăng 6,55%; nhóm sản phẩm lâm nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng thấp 3,49%.
Chỉ số giá nguyên, nhiên, vật liệu đầu vào dùng cho sản xuất quý II/2026 tăng 11,72% so với cùng kỳ năm trước, trong 7 nhóm sản phẩm chính các nhóm hàng đều tăng giá so cùng kỳ năm trước: Nhóm sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, và thuỷ sản tăng 1,93%; sản phẩm từ khai khoáng tăng 18,85%; nguyên vật liệu khác tăng 14,61%; điện, khí đốt, hơi nước và điều hoà không khí tăng 3,29%; nước tự nhiên khai thác tăng 0,33%; sản phẩm xây dựng tăng 6,9%; dịch vụ chuyên môn khoa học công nghệ tăng 5,47%. Tính bình quân 6 tháng đầu năm 2026 tăng 9,19% so cùng kỳ năm trước, trong 7 nhóm sản phẩm chính các nhóm hàng đều tăng giá so cùng kỳ năm trước: Nhóm sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, và thuỷ sản tăng 4,3%; sản phẩm từ khai khoáng tăng 18,6%; nguyên vật liệu khác tăng 9,44%; điện, khí đốt, hơi nước và điều hoà không khí tăng 4,04%; nước tự nhiên khai thác tăng 0,62%; sản phẩm xây dựng tăng 5,37%; dịch vụ chuyên môn khoa học công nghệ tăng 5,66%.
Chỉ số giá sản xuất công nghiệp quý II/2026 tăng 1,01% so với quý trước; tăng 3,9% so với quý cùng kỳ năm trước. Tính bình quân chỉ số giá 6 tháng đầu năm 2026 tăng 3,85% so với cùng kỳ năm năm trước, trong đó: nhóm sản phẩm khai khoáng tăng 19,59% so với cùng kỳ năm trước (nhờ nhóm sản phẩm quặng kim loại và tinh quặng kim loại, nhóm nhóm sản phẩm khai khoáng khác); nhóm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,95% (hầu hết sản phẩm đều tăng giá); nhóm điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 1,28% (do những tháng đầu năm công ty cổ phần thủy điện Trung Nam, Đăk R'tih áp dụng theo đơn giá điện mùa khô; bên cạnh đó sản lượng điện phát ra của công ty cổ phần thủy điện Đa Nhim - àm Thuận - Đa Mi cao hơn giá hợp đồng, tác động làm tăng chỉ số giá nhóm thủy điện; ngoài ra giá điện mặt trời biến động theo tỷ giá đồng Đô la Mỹ); nhóm nước tự nhiên khai thác, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,79% (do lượng nước tiêu thụ tăng tác động lên giá nước sản xuất; bên cạnh đó chi phí nhân công, giá nhiên liệu và chi phí vận hành tăng nên một số công ty điều chỉnh tăng giá dịch vụ thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu).
3. Hoạt động du lịch
Trong tháng, tỉnh Lâm Đồng sôi động với nhiều sự kiện văn hóa và thể thao quy mô lớn, nổi bật là Hội thao Quân sự, võ thuật và thể thao Công an nhân dân (từ ngày 17-24/6/2026) thu hút khoảng 1.500 vận động viên tham gia thi đấu các môn: bắn súng, võ thuật, vượt vật cản, bóng đá nam 7 người và Pickleball. Giải Thể thao học sinh phổ thông toàn quốc (từ ngày 20-30/6/2026); Chương trình kích cầu du lịch nội tỉnh diễn ra xuyên suốt trong tháng và kéo dài đến cuối năm 2026 hưởng ứng mùa du lịch hè, tỉnh triển khai chương trình “Người Lâm Đồng đi du lịch Lâm Đồng - Khám phá quê hương, kết nối yêu thương”, với nhiều chuỗi trải nghiệm, khám phá thiên nhiên, văn hóa và kết nối các vùng miền trên toàn tỉnh.
Lượt khách phục vụ trong tháng ước đạt 2.166,7 nghìn lượt, tăng 11,25% so tháng trước và tăng 20,65% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 73,5 nghìn lượt, tăng 7,14% so với tháng trước và tăng 7,43% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 3.997,7 nghìn ngày khách, tăng 12,21% so với tháng trước và tăng 23,91% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế trong tháng ước đạt 115 nghìn lượt khách, tăng 10,36% so với tháng trước và tăng 34,66% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 369,5 nghìn ngày khách, tăng 11,97% so với tháng trước và tăng 40,98% so với cùng kỳ năm trước.
Quý II/2026 lượt khách phục vụ đạt 6.138,6 nghìn lượt, tăng 17,03% so với quý cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 212,2 nghìn lượt, tăng 10,55 % so với quý cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 11.311,4 nghìn ngày khách, tăng 19,17% so với quý cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế quý II/2026 ước đạt 328,7 nghìn lượt khách, tăng 15,74% so với quý cùng kỳ năm trước; ngày khách quốc tế phục vụ ước đạt 1.047,2 nghìn ngày khách, tăng 20,51% so với quý cùng kỳ năm trước.
Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 lượt khách phục vụ đạt 11.995 nghìn lượt, tăng 18,08% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày đạt 428 nghìn lượt, tăng 13,91% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ đạt 22.430 nghìn ngày khách, tăng 20,2% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 đạt 825 nghìn lượt, tăng 18,6% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách quốc tế đạt 2.630 nghìn ngày khách, tăng 22,32% so với cùng kỳ năm trước.
Doanh thu dịch vụ lưu trú trong tháng ước đạt 769 tỷ đồng, tăng 18,46% so với tháng trước và tăng 30,39% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 3.110 tỷ đồng, tăng 13,73% so với tháng trước và tăng 39,95% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 59,4 tỷ đồng, tăng 3,64% so với tháng trước và tăng 44,03% so với cùng kỳ năm trước. Quý II/2026 doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 2.033,6 tỷ đồng, tăng 19,33% so với quý cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 8.249,3 tỷ đồng, tăng 25,7% so với quý cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 168,8 tỷ đồng; tăng 44,7% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 doanh thu dịch vụ lưu trú đạt gần 4.026 tỷ đồng, tăng 23,25% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống đạt 15.498 tỷ đồng, tăng 23,75% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ lữ hành đạt 325 tỷ đồng, tăng 41,8% so với cùng kỳ năm trước.
Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 6.098,5 tỷ đồng, tăng 12,21% so với tháng trước và tăng 24,7% so với cùng kỳ. Quý II/2026 doanh thu từ hoạt động du lịch ước đạt 17.264,2 tỷ đồng, tăng 19,92% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 33.310 tỷ đồng, tăng 22,15% so với cùng kỳ năm trước.

4. Hoạt động dịch vụ khác
Tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác trong tháng ước đạt 3.080,6 tỷ đồng, tăng 0,38% so với tháng trước và tăng 15,92% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 726,4 tỷ đồng, tăng 1,84% so với tháng trước và tăng 10,45% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 166,1 tỷ đồng, tăng 1,6% so với tháng trước và tăng 6,03% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 148,4 tỷ đồng, giảm 9,27% so với tháng trước và tăng 24,73% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 249,3 tỷ đồng, tăng 7,42% so với tháng trước và tăng 19,83% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 1.472,9 tỷ đồng, giảm 1,15% so với tháng trước và tăng 18,7% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ khác ước đạt 317,4 tỷ đồng, tăng 3,54% so với tháng trước và tăng 15,29% so với cùng kỳ năm trước.
Quý II/2026 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 9.172,9 tỷ đồng, tăng 21,16% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 2.137,9 tỷ đồng, tăng 13,23%; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 497,3 tỷ đồng, tăng 8,06%; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo đạt 460,6 tỷ đồng, tăng 27,04%; doanh thu dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội ước đạt 720,3 tỷ đồng, tăng 14,71%; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 4.444 tỷ đồng, tăng 30,23%; doanh thu dịch vụ khác đạt 927,9 tỷ đồng, tăng 13,24%; doanh thu dịch vụ thông tin truyền thông ước đạt 191,2 tỷ đồng, tăng 11,27%; doanh thu dịch vụ chuyên môn, khoa học và công nghệ ước đạt 640 tỷ đồng, tăng 11,64%.
Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 17.682,9 tỷ đồng, tăng 15,95% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 4.284,9 tỷ đồng, tăng 10,67%; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 995,5 tỷ đồng, tăng 10,09%; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo đạt 892 tỷ đồng, tăng 21,51%; doanh thu dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội ước đạt 1.439,8 tỷ đồng, tăng 15,31%; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 8.266,2 tỷ đồng, tăng 20,57%; doanh thu dịch vụ khác đạt 1.804,5 tỷ đồng, tăng 10,36%.
5. Hoạt động vận tải
Do nhu cầu đi lại của người dân và khách du lịch đến Đà Lạt, Phan Thiết và các điểm du lịch trên địa bàn tỉnh tăng trong tháng đầu tiên của mùa hè; đồng thời hoạt động vận chuyển nông sản, vật liệu xây dựng và hàng hóa phục vụ sản xuất, kinh doanh diễn ra sôi động để phục vụ cho các công trình đang thi công. Bên cạnh đó, hệ thống giao thông kết nối giữa Lâm Đồng với các tỉnh khu vực lân cận ngày càng thuận lợi, góp phần thúc đẩy hoạt động logistics, kho bãi và doanh thu ngành vận tải tăng so với cùng kỳ. Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.274,7 tỷ đồng, tăng 6,22% so với tháng trước và tăng 27,54% so với cùng kỳ năm trước. Quý II/2026 ước đạt 3.669,4 tỷ đồng, tăng 25,25% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 7.133 tỷ đồng, tăng 23,12% so với cùng kỳ năm trước.
- Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong tháng ước đạt 3.168 nghìn HK, tăng 6,67% so với tháng trước và tăng 25,15% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 457.748,3 nghìn HK.Km, tăng 6,96% so với tháng trước và tăng 26,14% so với cùng kỳ năm trước. Quý II/2026 lượt khách vận chuyển ước đạt 8.850,3 nghìn HK, tăng 19,19% so với quý cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 1.277.743,4 nghìn HK.Km, tăng 20,08% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, lượt khách vận chuyển ước đạt 17.098 nghìn HK, tăng 18,09% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 2.466.897 nghìn HK.Km, tăng 18,92% so với cùng kỳ năm trước.
- Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong tháng ước đạt 2.232,9 nghìn tấn, tăng 5,6% so với tháng trước và tăng 24,11% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 328.108,6 nghìn tấn.Km, tăng 5,10% so với tháng trước và tăng 24,51% so với cùng kỳ năm trước. Quý II/2026 khối lượng vận chuyển ước đạt 6.280 nghìn tấn, tăng 19,62% so với quý cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 924.781,3 nghìn tấn.Km, tăng 20,27% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, khối lượng vận chuyển ước đạt 12.274,5 nghìn tấn, tăng 17,30% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 1.806.168 nghìn tấn.Km, tăng 17,85% so với cùng kỳ năm trước
- Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.274,6 tỷ đồng, tăng 6,22% so với tháng trước và tăng 27,54% so với cùng kỳ năm trước. Quý II/2026 ước đạt 3.669,4 tỷ đồng, tăng 25,25% so với cùng quý năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 7.133 tỷ đồng, tăng 23,12% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu vận tải hành khách ước đạt 2.465 tỷ đồng, tăng 28,05% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 3.465 tỷ đồng, tăng 24,7% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 939,7 tỷ đồng, tăng 13,54% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 263,3 tỷ đồng, tăng 0,5% so với cùng kỳ năm trước.
- Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân trong tháng ước đạt đạt 91,4 nghìn tấn trong đó xuất cảng 81,4 nghìn tấn (tro bay, cát, xỉ than, muối xá, quặng), nhập cảng 10 nghìn tấn (xi măng, cao lanh, máy móc, muối xá). Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.373 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 1.250 nghìn tấn (muối xá, đá xá, tro bay, cát, xỉ than); nhập cảng 123 nghìn tấn (túi xi măng, cao lanh, bột đá, máy móc, muối xá).

V. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng
1. Thu ngân sách nhà nước
Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh ước quý II/2026 đạt 7.446,7 tỷ đồng, bằng 21,63% kế hoạch năm và giảm 6,91% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 18.623,9 tỷ đồng bằng 54,08% kế hoạch năm và tăng 11,06% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa ước đạt 17.320,4 tỷ đồng, bằng 53,01% kế hoạch năm và tăng 8,71%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước đạt 1.303,5 tỷ đồng, bằng 74,06% kế hoạch năm và tăng 55,69% so với cùng kỳ năm trước.

Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa trong 6 tháng đầu năm 2026: Thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 2.490 tỷ đồng (bằng 65,46% kế hoạch năm và tăng 6,57% so với cùng kỳ năm trước); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 873 tỷ đồng (bằng 63,27% kế hoạch năm và tăng 11,10%); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 4.856 tỷ đồng (bằng 72,61% kế hoạch năm và tăng 53,37%); thuế thu nhập cá nhân ước đạt 1.600 tỷ đồng (bằng 58,61% kế hoạch năm và tăng 0,34%); các khoản thu về nhà, đất ước đạt 2.220 tỷ đồng (bằng 30,10% kế hoạch năm và giảm 17,39%); thu từ xổ số kiến thiết ước đạt 3.087 tỷ đồng (bằng 53,22% kế hoạch năm và tăng 9,89%).
2. Chi ngân sách nhà nước
Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh ước quý II/2026 đạt 11.826,7 tỷ đồng, lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 25.309,5 tỷ đồng (bằng 51,87% kế hoạch, tăng 0,36% so với cùng kỳ), trong đó: Chi đầu tư phát triển ước đạt 9.051,8 tỷ đồng, giảm 2,91% so với cùng kỳ; chi thường xuyên ước đạt 16.138,6 tỷ đồng, tăng 0,40% so với cùng kỳ.
3. Hoạt động tín dụng
Tính đến 31/5/2026, công tác huy động vốn của các TCTD (Tổ chức tín dụng) trên địa bàn tỉnh đạt 240.469 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 11.193 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 4,88%. Trong đó, huy động bằng đồng Việt Nam đạt 237.670 tỷ đồng (chiếm 98,84% tổng huy động vốn); huy động bằng ngoại tệ đạt 2.799 tỷ đồng, (chiếm 1,16% tổng huy động vốn).
Ước đến 30/6/2026, huy động vốn của các TCTD trên địa bàn toàn tỉnh đạt 243.000 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng khoảng 13.728 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 5,99%.
Hoạt động tín dụng: Đến 31/5/2026, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh đạt 374.447 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 3.463 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 0,93%. Trong đó, dư nợ cho vay bằng đồng Việt Nam đạt 371.780 tỷ đồng (chiếm 99,29% tổng dư nợ); dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 2.667 tỷ đồng (chiếm 0,71% tổng dư nợ). Dư nợ cho vay ngắn hạn là 264.635 tỷ đồng, dư nợ cho vay trung dài hạn là 109.812 tỷ đồng. Ước đến 30/6/2026, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn toàn tỉnh đạt 382.000 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng khoảng 11.016 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 2,97%.
Lãi suất tiền gửi bằng VND bình quân của NHTM trong tỉnh ở mức 0,18% - 0,40%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 4,31% - 4,74%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 7,22% -8,01%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng; 7,43% - 7,92%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng. Lãi suất tiền gửi USD của TCTD ở mức 0%/năm đối với tiền gửi của cá nhân và tổ chức.
Lãi suất cho vay bằng VND bình quân của NHTM đối với các khoản cho vay mới ở mức 9% - 10,51%/năm. Lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân bằng VND đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 4%/năm. Lãi suất cho vay bằng USD bình quân ở mức 4,17% - 4,52%/năm.
Dư nợ cho vay: Đến 31/5/2026, dư nợ cho vay ngành du lịch - dịch vụ - thương mại trên địa bàn tỉnh đạt 184.967 tỷ đồng, chiếm 49,4% tổng dư nợ tín dụng; ngành công nghiệp - xây dựng đạt 32.253 tỷ đồng, chiếm 8,61% tổng dư nợ tín dụng; ngành nông lâm thủy sản đạt 157.227 tỷ đồng, chiếm 41,99% tổng dư nợ tín dụng. Nợ xấu là 6.759 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 1,8% trong tổng dư nợ tín dụng.
VI. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội
1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao
1.1. Hoạt động văn hóa
- Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Tập trung thực hiện công tác tuyên truyền các nhiệm vụ chính trị và chào mừng các sự kiện kỷ niệm của địa phương, đất nước như: tuyên truyền cổ động mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ 2026; tuyên truyền chào mừng Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam; kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2026); tuyên truyền bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp, nhiệm kỳ 2026 - 2031; tuyên truyền, phát động Cuộc thi sáng tác Biểu trưng (Logo) tỉnh Lâm Đồng; kỷ niệm 51 năm Ngày giải phóng Đà Lạt (03/4/1975 - 03/4/2026), Ngày giải phóng Phan Thiết (19/4/1975 - 19/4/2026); Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương (10/3 âm lịch); Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026); 140 năm Ngày Quốc tế Lao động (01/5/1886 - 01/5/2026); kỷ niệm 72 năm Ngày chiến thắng Điện Biên Phủ (07/5/1954 - 07/5/2026); kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026),… đồng thời tổ chức tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến người dân trên địa bàn tỉnh.
- Hoạt động văn hóa, văn nghệ: Đã tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ phục vụ các nhiệm vụ chính trị và chào mừng các sự kiện kỷ niệm của địa phương, đất nước như: chương trình bắn pháo hoa nổ tầm thấp đón giao thừa Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026; chương trình văn nghệ phục vụ cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp, nhiệm kỳ 2026-2031; các hoạt động văn nghệ kỷ niệm 140 năm Ngày Quốc tế Lao động (01/5/1886-01/5/2026); kỷ niệm 72 năm Ngày chiến thắng Điện Biên Phủ (07/5/1954-07/5/2026); 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026),... Ngoài ra, đến nay đã tổ chức 69 buổi biểu diễn phục vụ chính trị, biểu diễn doanh thu với số tiền 433.657.200 đồng; xây dựng mới 11 chương trình nghệ thuật; tổ chức 05 đợt phim, 01 tuần phim, 96 buổi biểu diễn văn nghệ, 505 buổi chiếu phim, 05 buổi triển lãm tranh lưu động, 40 buổi tuyên truyền xe loa và 01 vở kịch tuyên truyền phục vụ cơ sở.
- Hoạt động bảo tồn, bảo tàng:
+ Bảo tàng tỉnh: Trong tháng đón 13.900 lượt khách, trong đó có 656 lượt khách quốc tế (Nhà trưng bày chính Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng: 2.642 lượt; di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 3.778 lượt; di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên: 221 lượt; cơ sở Bảo tàng Bình Thuận: 6.392 lượt; cơ sở Bảo tàng Đắk Nông: 867 lượt). Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 đã đón 160.323 lượt khách, trong đó có 13.721 lượt khách quốc tế (Nhà trưng bày chính Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng: 43.717 lượt; di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 31.050 lượt; di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên: 6.528 lượt; cơ sở Bảo tàng Bình Thuận: 71.227 lượt; cơ sở Bảo tàng Đắk Nông: 7.801 lượt). Ngoài ra đã tổ chức tổ chức 12 cuộc triển lãm chuyên đề và lưu động; đồng thời tổ chức khảo sát, đánh giá hiện trạng tại các tuyến, điểm trong vùng Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đắk Nông và chuẩn bị các điều kiện tham dự Hội thảo mạng lưới Công viên địa chất Châu Á - Thái Bình Dương lần thứ 9 năm 2026 (APGN 2026) của Công viên Địa chất Toàn cầu UNESCO Langkawi, Malaysia.
+ Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận: Trong tháng tiếp đón 11.230 lượt khách đến tham quan; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 đã tiếp đón 66.476 lượt khách (trong đó có 237 khách quốc tế). Ngoài ra đã thực hiện 08 phóng sự chuyên đề; chức triển lãm 03 đợt ảnh tư liệu, ảnh nghệ thuật (315 hình ảnh) và thực hiện 06 phóng sự tại Di tích Dục Thanh; trưng bày triển lãm 95 hình ảnh với chuyên đề: “Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp giải phóng dân tộc”; trưng bày triển lãm 130 ảnh chuyên đề Chủ tịch Hồ Chí Minh với những chặng đường cách mạng vẻ vang của Đảng với tên gọi “Dục Thanh nhớ Bác”,... và tổ chức nhiều hoạt động văn hóa phục vụ người dân, du khách.
+ Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận trong kháng chiến chống Mỹ: Tiếp đón 1.367 lượt khách; luỹ kế 6 tháng đầu năm 2026 đã đón 12.657 lượt khách đến thăm viếng, tham quan, học tập, nghiên cứu, trải nghiệm.
- Hoạt động Thư viện: Cấp mới và gia hạn 133 thẻ (19 thẻ thiếu nhi), phục vụ 126.257 lượt bạn đọc, luân chuyển 67.568 lượt tài liệu, trưng bày 1.647 bản sách. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, đã cấp mới và gia hạn 5.590 thẻ (4.225 thẻ thiếu nhi), phục vụ 1.397.901 lượt bạn đọc, luân chuyển 442.082 lượt tài liệu, trưng bày 143.073 bản sách phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương và độc giả.
1.2. Hoạt động thể thao
- Thể dục thể thao quần chúng: Tổ chức và phối hợp tổ chức: Giải Pickleball tỉnh Lâm Đồng mở rộng năm 2026; giải chạy bộ “Vietnam Highlands Trail - Lâm Đồng”; giải chạy Chinh phục thử thách lần thứ 3 “Prenn Trail Summit”; giải đua thuyền truyền thống Phan Thiết mở rộng - Mừng xuân Bính Ngọ 2026; giải Võ thuật Cổ truyền tỉnh Lâm Đồng - Mừng xuân Bính Ngọ 2026; lễ phát động đẩy mạnh Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”; tháng hoạt động thể dục, thể thao cho mọi người và “Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân - Vì an ninh Tổ quốc” năm 2026; lễ hội các môn thể thao địa hình phối hợp Di Linh năm 2026 “Di Linh out door festival 2026”; giải Việt Nam FesTrival 3 môn phối hợp Lâm Đồng năm 2026; giải Siêu Marathon Đà Lạt ULtra Trail 2026; lễ khai mạc hè, phát động bơi an toàn phòng, chống đuối nước năm 2026; lớp tập huấn bơi an toàn, phòng, chống đuối nước trẻ em trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng năm 2026 (KV1); hội thi bơi, cứu đuối tỉnh Lâm Đồng năm 2026; giải cúp các CLB Yoga tỉnh Lâm Đồng lần thứ I năm 2026; giải chạy “Dalat Music Night Run 2026”.
- Thể thao thành tích cao: Trong 6 tháng đầu năm, tỉnh đã cử 778 vận động viên tham gia 44 giải thể thao quốc gia, quốc tế. Kết quả đã đạt được 254 huy chương (45 HCV, 70 HCB, 139 HCĐ); trong đó có 01 huy chương bạc Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X và 09 huy chương quốc tế (03 HCV, 1 HCB, 5 HCĐ).
2. Giáo dục và đào tạo
Trong tháng tập trung triển khai công tác chuẩn bị tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026, nhất là việc rà soát cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân sự phục vụ kỳ thi; xây dựng phương án bảo đảm an ninh, an toàn, phòng chống gian lận thi cử và các điều kiện phục vụ tổ chức kỳ thi trên địa bàn tỉnh. Thường xuyên cập nhật các thông tin liên quan đến việc tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học, cao đẵng. Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026, toàn tỉnh có 91 điểm thi được bố trí tại các xã, phường, đặc khu; toàn tỉnh có 1.845 phòng thi với 41.309 thí sinh đăng ký dự thi (trong đó có 39.594 thí sinh đang học lớp 12 tại các trường THPT, GDTX và 1.715 thí sinh tự do). Kỳ thi THPH năm 2026 (từ ngày 11-12/6/2026) được diễn ra an toàn, nghiêm túc, đúng quy chế. Theo kế hoạch, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ công bố điểm thi tốt nghiệp THPT năm 2026 vào ngày 01/7/2026.
Năm học 2025-2026, toàn tỉnh có 526 cơ sở giáo dục mầm non với 10.662 nhóm, lớp và 155.054 trẻ; 564 cơ sở giáo dục tiểu học (289 trường đạt chuẩn quốc gia) với 10.382 lớp và 327.349 học sinh; 366 trường trung học cơ sở (234 trường đạt chuẩn quốc gia) với 6.238 lớp và 248.983 học sinh; 122 trường trung học phổ thông (52 trường chuẩn quốc gia) với 2.876 lớp và 116.160 học sinh.
Toàn tỉnh có 78 cơ sở giáo dục nghề nghiệp (GDNN), gồm: 06 trường cao đẳng; 05 trường trung cấp (trong đó: 01 công lập); 28 trung tâm GDNN (trong đó: 12 công lập); 28 doanh nghiệp đăng ký hoạt động GDNN và 11 cơ sở GDNN khác (gồm 11 trường trung cấp liên kết đào tạo) thực hiện chức năng đào tạo nghề nghiệp trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng và chức năng giáo dục thường xuyên.
3. Y tế
Trong tháng tiếp tục tăng cường công tác giám sát, phát hiện và triển khai các biện pháp dự phòng, khoanh vùng, xử lý khi phát hiện các ca bệnh truyền nhiễm, nhất là phòng, chống dịch bệnh do vi rút Ebola; tiếp tục thực hiện đánh giá tình hình dịch bệnh truyền nhiễm tại các địa phương có số mắc cao để triển khai các biện pháp phòng chống và xử lý kịp thời các ổ dịch phát sinh; đồng thời chuẩn bị đầy đủ thuốc, hóa chất, vật tư phục vụ công tác phòng chống dịch và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh phục vụ người dân.
- Bệnh sốt xuất huyết: Trong tháng phát hiện 174 ca mắc sốt xuất huyết mới, tăng 05 ca so với tháng trước (169 ca) và giảm 99 ca so với cùng kỳ năm trước (273 ca), không có trường hợp tử vong. Lũy kế từ đầu năm đến 31/5/2026, toàn tỉnh có 1.155 ca mắc; ước 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 1.766 ca mắc. Trong tháng đã phát hiện và xử lý 30 ổ dịch, Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 đã phát hiện xử lý 155 ổ dịch.
- Bệnh sốt rét: Trong tháng không xảy ra; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 02 ca mắc bệnh sốt rét.
- Bệnh tay chân miệng: Trong tháng phát hiện 593 ca mắc, giảm 156 ca so với tháng trước và tăng 207 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh ước có 2.709 ca mắc.
- Bệnh sởi: Trong tháng phát hiện 23 ca mắc, tăng 13 ca so với tháng trước và giảm 218 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh ước có 76 ca mắc.
- Tiêm chủng mở rộng: Trong tháng đã tiêm chủng đầy đủ cho 3.877 trẻ dưới 1 tuổi; tiêm viêm gan B sơ sinh trước 24h sau sinh cho 3.337 trẻ; tiêm MR (phòng chống sởi và rubella) cho 4.220 trẻ; tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DPT) mũi 4 cho 4.277 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 1 cho 3.818 trẻ, mũi 2 cho 3.834 trẻ và mũi 3 cho 7.228 trẻ; ngoài ra đã tổ chức tiêm phòng uốn ván cho 3.651 phụ nữ có thai trên địa bàn tỉnh.
- Công tác phòng chống Phong: Duy trì tốt công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chí của Bộ Y tế. Trong tháng không phát hiện bệnh nhân phong mới. Toàn tỉnh còn quản lý 437 bệnh nhân; đang điều trị 03 bệnh nhân; đang giám sát 10 bệnh nhân; chăm sóc tàn tật cho 431 bệnh nhân. Số bệnh nhân tăng thêm trong tháng là 01 bệnh nhân (bệnh nhân chuyển về cư trú lại). Bệnh nhân hết quản lý trong tháng là 01 bệnh nhân (bệnh nhân tử vong).
- Công tác phòng chống Lao: Chương trình chống lao tiếp tục được duy trì mục tiêu triển khai công tác chống lao tại 100% xã, phường, đặc khu. Trong tháng, số bệnh nhân lao mới các thể thu nhận là 186 bệnh nhân (05 bệnh nhân /100.000 dân); bệnh nhân lao phổi có bằng chứng vi khuẩn học mới (AFB (+) và MTB) trong tháng là 04 BN/100.000 dân.
- Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng phát hiện 09 bệnh nhân nhiễm HIV mới, có 03 trường hợp tử vong do AIDS. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 4.827 người mắc HIV, chuyển sang AIDS 1.790 người, tử vong 1.577 người.
- Công tác khám chữa bệnh: Trong tháng đã tổ chức khám bệnh cho 429.377 lượt bệnh nhân, số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 37.813 lượt người, tổng số ngày điều trị nội trú là 223.477 ngày, xét nghiệm cho 584.145 tiêu bản, chẩn đoán 130.951 hình ảnh và phẫu thuật 6.168 trường hợp. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, ước khám bệnh cho 2.524.114 lượt người; 204.599 lượt bệnh nhân điều trị nội trú với 1.256.544 ngày, số ngày điều trị nội trú trung bình/bệnh nhân 6,01 ngày, công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 80,0%; ước xét nghiệm cho 3.318.303 tiêu bản; chẩn đoán 756.752 hình ảnh và phẫu thuật cho 32.742 trường hợp.
- Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm: Trong tháng đã tổ chức kiểm tra tại 119 cơ sở thực phầm, phát hiện 18 cơ sở vi phạm quy định về an toàn thực phẩm, đã xử phạt 142,5 triệu đồng (trong đó: 02 đoàn kiểm tra tại 62 cơ sở theo kế hoạch kiểm tra liên ngành Tháng hành động vì an toàn thực phẩm năm 2026). Trong tháng không xảy ra ngộ độc thực phẩm; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm (do ăn bánh mì tại phường Phan Thiết) làm 97 người mắc, không có tử vong.
4. Thông tin, báo chí, xuất bản
- Báo chí và truyền thông: Thực hiện tốt công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; tuyên truyền kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031; tuyên truyền chuỗi hoạt động “Chào mùa Du lịch hè năm 2026”,... đồng thời thường xuyên rà soát, theo dõi, xử lý các thông tin trên không gian mạng liên quan đến tỉnh Lâm Đồng.
- Thông tin cơ sở và thông tin đối ngoại: Được triển khai theo kế hoạch, bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương và địa phương. Đã ban hành Kế hoạch số 6842/KH-UBND ngày 14/5/2026 về thực hiện Quyết định số 173/QĐ-TTg ngày 27/01/2026 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược truyền thông quảng bá hình ảnh Việt Nam ra nước ngoài giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045 trên đại bàn tỉnh Lâm Đồng; đồng thời triển khai thuê phần mềm giám sát thông tin trên không gian mạng trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng.
- Xuất bản, in và phát hành: Thực hiện tốt hoạt động quản lý Nhà nước về xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm trên địa bàn tỉnh. Trong 6 tháng đầu năm 2026, đã cấp 13 giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh và 02 giấy phép tổ chức hội chợ triển lãm xuất bản phẩm.
5. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và người có công
5.1. Chính sách dân tộc
- Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ổn định; các chính sách an sinh xã hội và đầu tư trong vùng đồng bào DTTS và miền núi, đặc biệt là Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi được Nhà nước quan tâm triển khai. Hệ thống kết cấu hạ tầng thiết yếu tiếp tục được quan tâm đầu tư, bản sắc văn hóa truyền thống của đồng bào được gìn giữ và phát huy, qua đó góp phần nâng cao điều kiện sinh hoạt, học tập và chăm sóc sức khỏe người dân.
- Kết quả giải ngân Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng DTTS: Tổng kế hoạch vốn giao thực hiện Chương trình giai đoạn 2021-2025, kéo dài sang năm 2026 thực hiện 1.140.892,89 triệu đồng (gồm: vốn đầu tư phát triển 725.335,61 triệu đồng và vốn sự nghiệp 415.557,28 triệu đồng); kết quả đến tháng 6/2026 đã giải ngân 871.158,59 triệu đồng, đạt 76,36% kế hoạch (trong đó: vốn đầu tư: 560.268,49 triệu đồng, vốn sự nghiệp: 290.890,1 triệu đồng). Hiện nay các xã và các đơn vị được giao chủ đầu tư đang khẩn trương triển khai thực hiện và giải ngân theo kế hoạch.
- Kết quả thực hiện chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển sản xuất cho vùng đồng bào DTTS và miền núi: Đã triển khai cho 991 hộ dân đăng ký nhu cầu hỗ trợ đầu tư phát triển sản xuất bắp lai, lúa nước năm 2026 với diện tích là 5.916,15 ha; tổ chức 12 lớp tập huấn, tư vấn kỹ thuật sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và quy trình thâm canh bắp lai, lúa nước cho hơn 800 lượt hộ dân; tiếp tục thực hiện cung ứng dịch vụ công ích sử dụng ngân sách nhà nước theo quy định, gồm: vận chuyển và cung ứng 15 tấn lúa giống, 10 tấn bắp giống, 500 tấn phân bón; hỗ trợ tiêu thụ 3.500 tấn bắp lai thương phẩm và 10 tấn mủ cao su,… qua đó đảm bảo cung ứng giống, vật tư và các yếu tố đầu vào thiết yếu, góp phần giúp hộ đồng bào DTTS ổn định đời sống và phát triển sản xuất; từng bước thúc đẩy phát triển kinh tế hộ, nâng cao thu nhập và thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững.
5.2. Chính sách tôn giáo
Hoạt động của các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường ổn định. Việc triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác tôn giáo được thực hiện hiệu quả; công tác giải quyết thủ tục hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo được thực hiện kịp thời, đúng quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và bộ thủ tục hành chính, qua đó đáp ứng nhu cầu chính đáng của các tổ chức, cá nhân theo các tôn giáo.
Trong 6 tháng đầu năm 2026, tỉnh chấp thuận thành lập tổ chức tôn giáo trực thuộc 25 trường hợp; chia tách tổ chức tôn giáo trực thuộc 01 trường hợp; chấp thuận các tổ chức tôn giáo bổ nhiệm 25 chức việc; mở 22 lớp bồi dưỡng người chuyên hoạt động tôn giáo; sự cần thiết và quy mô xây dựng công trình tôn giáo trong khuôn viên 08 trường hợp; xác nhận tiếp nhận thông báo phong phẩm chức sắc 80 trường hợp của các tôn giáo; thông báo danh mục hoạt động tôn giáo bổ sung 01; thuyên chuyển địa bàn hoạt động tôn giáo 27 chức sắc,… Nhìn chung, chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ các tôn giáo thực hiện tốt các quy định của pháp luật, phù hợp với truyền thống văn hóa và phong tục, tập quán của đồng bào, địa phương, góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phát huy các giá trị văn hóa tôn giáo và ổn định đời sống tinh thần của người dân.
5.3. Chính sách người có công
Trong tháng đã giải quyết 324 hồ sơ về chế độ chính sách cho người có công. Chuẩn bị kế hoạch triển khai các hoạt động kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2026) và triển khai “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” do Ban Chỉ đạo 515 quốc gia phát động.
Công tác chăm lo đời sống cho người có công cách mạng được thực hiện hiệu quả. Trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, tỉnh tổ chức thăm, tặng quà tết theo Quyết định số 01/QĐ-CTN ngày 05/01/2026 của Chủ tịch nước 27.201 suất với tổng số tiền hơn 8,3 tỷ đồng; thăm tặng quà theo Nghị quyết số 92/2025/NQ-HĐND ngày 30/12/2025 của HĐND tỉnh Lâm Đồng 65.234 suất với tổng kinh phí hơn 83,8 tỷ đồng. Đã giải quyết cho 18.315 đối tượng hưởng trợ cấp ưu đãi người có công hằng tháng với tổng kinh phí gần 46,3 tỷ đồng. Từ đầu năm đến nay, tỉnh phê duyệt danh sách đối tượng là con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học có nhu cầu hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát cho 87 đối tượng (47 căn xây mới, 40 căn sửa chữa); tổ chức 04 đợt điều dưỡng tập trung đối với người có công với cách mạng và thân nhân liệt sĩ tại Trung tâm điều dưỡng và chăm sóc người có công Khánh Hòa, Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Lâm Đồng với 425 lượt người; ban hành Quyết định điều dưỡng tại nhà đối với người có công với cách mạng và thân nhân liệt sĩ với 3.745 người, tổng kinh phí 9,4 tỷ đồng và giải quyết 1.875 hồ sơ về chế độ chính sách cho người có công. Thực hiện chi trả trợ cấp hằng tháng không dùng tiền cho đối tượng người có công với cách mạng 13.802 người với tổng kinh phí 182,24 tỷ đồng.
6. Hoạt động bảo hiểm
Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN cho đối tượng thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia và thụ hưởng. Tính đến hết tháng 5 năm 2026, toàn tỉnh có 317.946 người tham gia BHXH, tăng 1,10% so với tháng trước; có 240.259 người tham gia BHTN, tăng 0,85%; số người tham gia BHYT là 3.110.300 người, tăng 1,17% so với tháng trước. Tỷ lệ bao phủ BHYT chung toàn tỉnh đạt 91,81% dân số.
Trong tháng đã giải quyết mới 10.864 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề cho 2.248 người (trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 213 người; trợ cấp 1 lần cho 2.600 người; chế độ ốm đau cho 6.172 người; chế độ thai sản cho 1.437 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 442 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 2.106 người và hỗ trợ học nghề cho 142 người). Lũy kế đến ngày 31/5/2026, toàn tỉnh đã giải quyết mới 47.218 lượt người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả cho 7.332 người hưởng chế độ BHTN (trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 735 người; trợ cấp 1 lần cho 11.131 người; chế độ ốm đau cho 27.313 người; chế độ thai sản cho 6.270 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 1.769 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 6.967 người và hỗ trợ học nghề cho 365 người).
7. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/5 - 14/6/2026)
Trong tháng xảy ra 54 vụ tai nạn giao thông, tăng 13 vụ so với tháng trước và giảm 11 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết là 40 người, tăng 13 người so với tháng trước và bằng cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 41 người, tăng 23 người so với tháng trước và giảm 14 người so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 345 vụ (trong đó có 05 vụ đường sắt), giảm 89 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết 223 người, tăng 14 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 230 người, giảm 121 người so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do người điều khiển phương tiện chạy quá tốc độ, thiếu quan sát, đi không đúng phần đường, lấn làn, qua đường bất cẩn, sử dụng rượu bia và vượt xe sai quy định.
8. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường
- Thiên tai: Trong tháng (từ ngày 26/5-23/6/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 06 vụ thiên tai do mưa kèm theo dông lốc; thiên tai đã làm 02 người bị thương, 06 căn nhà bị sập đổ hoàn toàn, 02 căn nhà bị hư hỏng, 0,6 ha lúa mới gieo xạ bị vùi lấp, 03 tàu cá bị chìm, 01 trụ sở trường học tốc mái, 02 căn phòng làm việc (tại trụ sở UBND phường Hàm Thắng) bị tốc mái hoàn toàn và hư hỏng nhiều công trình, tài sản khác; ước tổng giá trị thiệt hại 21,595 tỷ đồng. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, trên địa bàn tỉnh xảy ra 14 vụ thiên tai làm 01 người chết, 02 người bị thương, 08 căn nhà bị sập đổ hoàn toàn, 11 căn nhà bị hư hỏng, 0,5 ha rau màu bị thiệt hại nặng, 0,6 ha lúa mới gieo xạ bị vùi lấp, 14 con gia sức bị cuốn trôi, khoảng 70.000 con gia cầm chết do ảnh hưởng của sét đánh, 03 tàu cá bị chìm và hư hỏng nhiều công trình, tài sản khác; ước tổng giá trị thiệt hại là 29,5 tỷ đồng.
- Cháy nổ: Trong tháng (từ ngày 16/5-15/6/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 vụ cháy nổ, giảm 07 vụ so với tháng trước và bằng so với cùng kỳ năm trước, ước thiệt hại 248,5 triệu đồng. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 39 vụ cháy, tăng 13 vụ so với cùng kỳ năm trước, làm 02 người chết và 02 người bị thương; có 30 vụ đã được thống kê thiệt hại với số tiền là 2.975 triệu đồng, 09 vụ đang thống kê thiệt hại.
- Vi phạm môi trường: Trong tháng không xảy ra (tháng 6/2025 xảy ra 04 vụ vi phạm và xử phạt 600 triệu đồng). Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 xảy ra 3 vụ vi phạm, giảm 15 vụ so với cùng kỳ năm trước, đã xử phạt 415,0 triệu đồng (6 tháng đầu năm 2025 xảy ra 18 vụ vi phạm, xử phạt 3.278 triệu đồng).
* Đánh giá chung
Sáu tháng đầu năm 2026, kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng tiếp tục phục hồi, duy trì tăng trưởng khá và có chuyển biến rõ hơn trong quý II. GRDP 6 tháng ước tăng 7,90% so với cùng kỳ, riêng quý II tăng 9,22%, cao hơn quý I, cho thấy tác động tích cực của các giải pháp chỉ đạo, điều hành. Nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục là trụ đỡ ổn định; công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ, du lịch và vận tải đều tăng, tạo nền tảng quan trọng cho mục tiêu phát triển cả năm.
Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục là khu vực giữ vai trò ổn định nền kinh tế. Diện tích gieo trồng cây hàng năm tăng so với cùng kỳ; một số cây trồng chủ lực như cà phê, sầu riêng, hồ tiêu, rau, hoa duy trì quy mô sản xuất lớn; chăn nuôi phát triển khá, tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng 6 tháng tăng 9,69%; sản lượng sữa tăng 25,96%. Sản xuất thủy sản tăng 2,99%; sản xuất tôm giống tăng 10,01%. Công tác ứng dụng khoa học công nghệ, khuyến nông, sản xuất an toàn bền vững, liên kết sản xuất và Chương trình OCOP tiếp tục được quan tâm, góp phần nâng cao chất lượng và khả năng tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.
Sản xuất công nghiệp duy trì đà tăng trưởng khá, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực chủ yếu. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) 6 tháng đầu năm tăng 9,60%. Nhiều sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ như đá các loại, thủy sản chế biến, rau quả chế biến, đồ uống, giày dép, phân bón, gạch xây dựng, bê tông trộn sẵn, điện thương phẩm. Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm so với cùng kỳ, cho thấy khả năng tiêu thụ sản phẩm có chuyển biến tích cực.
Hoạt động xây dựng và đầu tư phát triển tiếp tục được thúc đẩy. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng 14,38%; trong đó vốn ngoài nhà nước tiếp tục giữ vai trò chủ lực, tăng 16,16%. Một số dự án hạ tầng giao thông, khu công nghiệp, đô thị, hàng không, thủy lợi và công nghiệp quy mô lớn tiếp tục được triển khai, tạo nền tảng cho tăng trưởng các quý tiếp theo và trung hạn.
Thương mại, dịch vụ và du lịch tăng khá trong 6 tháng đầu năm. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ tăng 17,33%. Hoạt động du lịch tiếp tục đóng vai trò động lực của khu vực dịch vụ, với tổng lượt khách phục vụ đạt gần 12 triệu lượt, tăng 18,08%; doanh thu từ hoạt động du lịch tăng 22,15%. Hoạt động vận tải, kho bãi tăng khá, đáp ứng tốt hơn nhu cầu vận chuyển hành khách, hàng hóa, du lịch và sản xuất kinh doanh.
Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt kết quả tích cực, tổng thu 6 tháng đạt tăng 11,06% so với cùng kỳ; trong đó thu nội địa tăng 8,71%. Hoạt động tín dụng tiếp tục bảo đảm vốn cho nền kinh tế; huy động vốn đến cuối tháng 6 ước tăng 5,99% so với cuối năm 2025. Tình hình đăng ký doanh nghiệp có tín hiệu tích cực, 6 tháng đầu năm số doanh nghiệp thành lập mới tăng 58,38%; số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tăng 10,76%; số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động cao hơn nhiều so với số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.
Các lĩnh vực văn hóa - xã hội tiếp tục được quan tâm thực hiện. Nhiều hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch, bảo tồn di sản được tổ chức, góp phần quảng bá hình ảnh địa phương và phục vụ đời sống tinh thần của Nhân dân. Công tác giáo dục tập trung hoàn thành nhiệm vụ năm học, chuẩn bị và tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 an toàn, nghiêm túc. Ngành y tế chủ động giám sát, phòng chống dịch bệnh, duy trì công tác khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe Nhân dân. Các chính sách đối với người có công, đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế tiếp tục được triển khai, góp phần bảo đảm an sinh xã hội và ổn định đời sống dân cư.
Bên cạnh những kết quả đạt được, tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm vẫn còn một số vấn đề cần chú ý.
Tăng trưởng giữa các khu vực kinh tế chưa thật sự đồng đều. Một số ngành, lĩnh vực có quy mô lớn tuy duy trì mức tăng so với cùng kỳ nhưng tốc độ tăng chưa tương xứng với yêu cầu tăng trưởng cao của cả năm. Sản xuất công nghiệp tiếp tục phục hồi, nhiều sản phẩm chủ yếu tăng khá; tuy nhiên, mức tăng của một số sản phẩm còn thấp, chưa đồng đều giữa các nhóm ngành.
Trong lĩnh vực xây dựng và đầu tư phát triển, giá trị sản xuất xây dựng và vốn đầu tư toàn xã hội tiếp tục tăng, song tiến độ thực hiện một số công trình, dự án trọng điểm còn phụ thuộc nhiều vào công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, đất rừng, thủ tục đầu tư và biến động giá nguyên vật liệu xây dựng. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý 6 tháng đạt 22,57% kế hoạch năm, cho thấy khối lượng cần thực hiện trong các tháng cuối năm còn lớn.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, mặc dù sản xuất cơ bản ổn định, nhưng vẫn tiềm ẩn rủi ro do dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi, biến động giá vật tư đầu vào, chi phí vận chuyển và thời tiết bất thường. Một số cây trồng như điều, chè giảm diện tích hoặc sản lượng so với cùng kỳ; dịch tả lợn Châu Phi còn phát sinh tại một số địa bàn; tình hình vi phạm lâm luật, phá rừng và cháy rừng tăng so với cùng kỳ. Thiên tai, mưa dông, lốc, cháy nổ, tai nạn giao thông, bệnh tay chân miệng và một số dịch bệnh truyền nhiễm vẫn cần được theo dõi chặt chẽ, không để phát sinh thành điểm nóng ảnh hưởng đến đời sống Nhân dân và hoạt động sản xuất kinh doanh.
THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG
.JPG)
.JPG)
.JPG)
.JPG)
.JPG)
.JPG)
.JPG)
Kèm file: So lieu KTXH_thang_06_nam_2026.pdf
TIN TỨC CÙNG LOẠI KHÁC:
Trang:
/