Tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 và 7 tháng năm 2026 tỉnh Lâm Đồng
sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định. Công nghiệp tiếp tục tăng khá so với cùng kỳ. Vốn đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý có cải thiện so với cùng kỳ, nhưng tiến độ lũy kế vẫn chậm so với yêu cầu...
I. Nông, lâm nghiệp và thủy sản
Trong tháng, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định. Sản xuất nông nghiệp tập trung gieo trồng vụ Hè thu theo đúng khung vụ; nhờ chủ động nguồn nước, đẩy mạnh cơ giới hóa và sử dụng giống ngắn ngày, chất lượng cao nên tiến độ sản xuất bảo đảm kế hoạch. Chăn nuôi phát triển ổn định, tổng đàn gia súc, gia cầm được duy trì. Hoạt động lâm nghiệp tập trung thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2026; đồng thời tăng cường quản lý bảo vệ rừng và triển khai hiệu quả các biện pháp phòng, chống cháy rừng. Hoạt động khai thác thủy sản đạt kết quả tích cực, sản lượng khai thác đều tăng so với cùng kỳ; công tác kiểm tra, kiểm soát, phòng, chống khai thác hải sản bất hợp pháp tiếp tục được tăng cường.
1. Trồng trọt
1.1. Cây hàng năm
Tính đến ngày 15/7/2026, tổng diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm ước đạt 244.974,9 ha, tăng 2,02% so với cùng kỳ. Diện tích gieo trồng tăng ở hầu hết các loại cây trồng, trong đó: diện tích gieo trồng lúa ước đạt 104.800 ha, tăng 1,21% (diện tích gieo trồng lúa vụ Hè thu ước đạt 49.400 ha, tăng 2,42%); diện tích gieo trồng ngô ước đạt 32.200 ha, tăng 4,61%; diện tích gieo trồng rau ước đạt 58.000 ha, tăng 2,21%; diện tích gieo trồng hoa ước đạt 7.750 ha, tăng 1,48%; diện tích gieo trồng đậu các loại ước đạt 9.250 ha, tăng 0,67%; diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm còn lại ước đạt 32.974,9 ha, tăng 2,34%.

1.2. Cây lâu năm
Trong tháng, sản xuất cây lâu năm trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì ổn định. Thời tiết đầu mùa mưa với lượng mưa cơ bản đáp ứng nhu cầu sinh trưởng của cây trồng; giá nhiều nông sản chủ lực, đặc biệt là cà phê và sầu riêng duy trì ở mức cao, tạo động lực để nông dân đầu tư thâm canh, chăm sóc và tái đầu tư sản xuất. Diện tích sản xuất theo các tiêu chuẩn chất lượng và hướng phát triển bền vững tiếp tục được mở rộng; nhiều vùng nguyên liệu đã hình thành chuỗi liên kết với doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu. Cụ thể một số loại cây chính như sau:
- Cây cà phê: Diện tích cà phê hiện có 329.992 ha, tăng 1,09% so với cùng kỳ; hiện cây cà phê đang trong giai đoạn nuôi trái; giá cà phê đang duy trì ở mức cao nên người dân tăng cường đầu tư chăm sóc, bón phân,...;
- Cây cao su: Diện tích hiện có 75.378 ha, tăng 1,95% so với cùng kỳ. Trong thời gian tới, diện tích cao su trồng mới dự kiến tiếp tục tăng nhưng với tốc độ chậm, do người dân vẫn còn thận trọng trước những biến động về giá cả và chi phí đầu tư;
- Cây điều: Diện tích điều hiện có 45.765,2 ha, giảm 8,74% so với cùng kỳ. Mặc dù vẫn là một trong những cây công nghiệp lâu năm của tỉnh, cây điều không còn nằm trong nhóm cây được ưu tiên mở rộng diện tích. Trong bối cảnh phát triển nông nghiệp công nghệ cao, cấp mã số vùng trồng và đẩy mạnh các ngành hàng xuất khẩu có giá trị cao, diện tích điều có xu hướng chuyển đổi sang các cây trồng có hiệu quả kinh tế cao hơn như cà phê, sầu riêng, chanh leo, dâu tằm,…;
- Cây sầu riêng: Diện tích hiện có 44.256 ha, tăng 2,13% so với cùng kỳ; hiện một số vùng đang thu hoạch, một số vùng tiếp tục trong giai đoạn nuôi trái. Giá sầu riêng duy trì ở mức khá đã khuyến khích người sản xuất đầu tư thâm canh, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm;
- Cây hồ tiêu: Diện tích hiện có 37.761,9 ha, tăng 0,01% so với cùng kỳ; hiện đã hoàn tất thu hoạch vụ tiêu năm 2025-2026. Giá hồ tiêu duy trì ở mức khá cao (khoảng 148.000 - 151.000 đồng/kg) trong những tháng đầu năm 2026, đây là động lực giúp người nông dân tái đầu tư và chăm sóc vườn cây;
- Cây thanh long: Diện tích hiện có 25.866 ha, giảm 0,21% so với cùng kỳ; cây sinh trưởng tương đối ổn định, tuy nhiên chi phí sản xuất tăng do xử lý ra hoa trái vụ. Giá thanh long duy trì ở mức trung bình khá, góp phần ổn định sản xuất; người dân đang định hướng phát triển tập trung vào nâng cao năng suất, chất lượng thông qua mở rộng diện tích sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP thay vì mở rộng diện tích;…
1.3. Tình hình thủy lợi phục vụ sản xuất
Tính đến ngày 15/7/2026, tổng dung tích nước tại các hồ chứa trên địa bàn tỉnh ước đạt 454,13 triệu m3, bằng 51,45% dung tích thiết kế, tăng 10,18 triệu m3 so với cùng kỳ, cơ bản đáp ứng nhu cầu phục vụ sản xuất trên địa bàn.
1.4. Tình hình dịch bệnh
Trong tháng, tình hình dịch bệnh trên cây trồng biến động không đáng kể. Công tác bảo vệ thực vật được tăng cường, tình hình dự báo sâu bệnh định kỳ, thường xuyên đã kịp thời phát hiện và xử lý các đối tượng gây hại trên cây trồng, đặc biệt là các cây trồng chủ lực của tỉnh như lúa, rau, hoa, chè, cà phê,... hạn chế thiệt hại trên diện rộng. Việc áp dụng các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp (IPHM) tiếp tục được mở rộng.
2. Chăn nuôi
Trong tháng, hoạt động chăn nuôi trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì ổn định và phát triển theo hướng tích cực. Công tác phòng, chống dịch bệnh được triển khai thường xuyên; các cơ sở chăn nuôi thực hiện tốt các biện pháp an toàn sinh học, vệ sinh, tiêu độc, khử trùng, tiêm phòng theo quy định, góp phần kiểm soát dịch bệnh, bảo đảm an toàn sản xuất và duy trì ổn định quy mô đàn vật nuôi. Sản lượng thịt hơi các loại ước tính trong tháng đạt 30.646 tấn, tăng 10% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 ước đạt 215.915 tấn, tăng 11,68%.
- Đàn trâu: Tổng đàn hiện có 27 nghìn con, tăng 0,75% so với cùng kỳ. Quy mô đàn trâu tương đối ổn định nhờ người dân tận dụng các vùng chăn thả và nguồn phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn. Tuy nhiên, tốc độ tăng đàn còn chậm do hiệu quả kinh tế chưa cao, thời gian sinh trưởng dài và diện tích đồng cỏ tự nhiên ngày càng thu hẹp.
- Đàn bò: Tổng đàn hiện có 320 nghìn con, tăng 2,99% so với cùng kỳ (trong đó đàn bò sữa 32,5 nghìn con, tăng 4,84%). Quy mô đàn bò tiếp tục tăng nhờ công tác cải tạo giống, mở rộng vùng nguyên liệu thức ăn, phát triển diện tích trồng cỏ và duy trì liên kết tiêu thụ giữa doanh nghiệp với người chăn nuôi, góp phần tạo đầu ra tương đối ổn định.
- Đàn lợn: Tổng đàn hiện có 1.541,3 nghìn con, tăng 5,4% so với cùng kỳ (không bao gồm lợn con chưa tách mẹ có 1.253,9 nghìn con, tăng 5%). Quy mô đàn lợn tăng khá nhờ giá lợn hơi duy trì ở mức có lợi, khuyến khích người chăn nuôi tái đàn; nhiều doanh nghiệp và trang trại tiếp tục đầu tư mở rộng quy mô, áp dụng chăn nuôi an toàn sinh học và kiểm soát tốt dịch bệnh.
- Đàn gia cầm: Tổng đàn hiện có 24.500 nghìn con, tăng 8,89% so với cùng kỳ (trong đó gà các loại 16.500 nghìn con, chiếm 67,35% trong tổng đàn gia cầm, tăng 8,91%). Đây là nhóm vật nuôi có tốc độ tăng cao nhờ nhu cầu tiêu dùng ổn định, thời gian quay vòng vốn nhanh, giá bán thuận lợi, cùng với việc áp dụng hiệu quả các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học, chủ động phòng chống dịch bệnh.

* Các hoạt động phòng, chống dịch bệnh
- Đối với bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Trong tháng, dịch bệnh phát sinh tại 07 xã, phường trên địa bàn tỉnh, đã tiêu hủy 5.979 con/293,37 tấn. Lũy kế từ 01/01/2026 đến nay, toàn tỉnh đã tiêu hủy 22.220 con lợn mắc bệnh với tổng trọng lượng 1.064,6 tấn; đến nay còn 07 xã có ổ dịch chưa qua 21 ngày.
- Bệnh Dịch tả loài nhai lại nhỏ (PPR) phát sinh trên đàn dê tại xã Tân Minh, đã tiêu hủy 21 con/345kg.
- Các dịch bệnh nguy hiểm trên vật nuôi như: Dại, tai xanh, Lở mồm long móng, Tụ huyết trùng, cúm gia cầm không xảy ra.
- Công tác phòng, chống dịch bệnh: Trong tháng, công tác phòng, chống dịch bệnh trên đàn vật nuôi được triển khai đồng bộ, hiệu quả; thực hiện tiêu độc, khử trùng môi trường chăn nuôi và kiểm soát chặt chẽ việc vận chuyển động vật, sản phẩm động vật (đã phân bổ bổ sung 7.300 liều vắc xin và 92 lít hóa chất cho các địa phương để tổ chức tiêm phòng, vệ sinh, tiêu độc, khử trùng môi trường). Công tác tuyên truyền, hướng dẫn người chăn nuôi thực hiện các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh hoc và khai báo dịch bệnh được đẩy mạnh.
3. Sản xuất lâm nghiệp
Trong tháng, diện tích trồng rừng ước đạt 1.615,4 ha, tăng 3,31% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 ước đạt 5.841,4 ha, tăng 4,67%. Diện tích trồng cây phân tán trong tháng ước đạt 1,6 triệu cây, tăng 3,27% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 ước đạt 7,2 triệu cây, tăng 3,34%.
- Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 42.299 m3, tăng 4,94% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 275.588 m3, tăng 3,58%.
- Sản lượng củi khai thác trong tháng ước đạt 28.012 ste, tăng 1,74% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026, sản lượng củi khai thác ước đạt 208.093,2 ste, tăng 1,95%.
- Tổng số vụ vi phạm lâm luật trong tháng (tính từ 10/6 - 10/7/2026) là 50 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật 23 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 4,2 ha); so với cùng kỳ, số vụ vi phạm tăng 18 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật tăng 19 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 3,9 ha). Lũy kế 7 tháng năm 2026 (từ ngày 10/12/2025 đến ngày 10/7/2026), tổng số vụ vi phạm 350 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật 159 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 27,0 ha); so với cùng kỳ, số vụ vi phạm tăng 60 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật tăng 43 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 9,8 ha).
- Công tác phòng, chống cháy rừng: Công tác phòng cháy, chữa cháy rừng tiếp tục được triển khai đồng bộ. Các hoạt động trọng tâm gồm phát dọn đường băng cản lửa, theo dõi, thông báo kịp thời cấp dự báo cháy rừng tại các địa phương; cập nhật thông tin dự báo, cảnh báo nguy cơ cháy rừng để kiểm tra, xác minh và xử lý; rà soát các khu vực trọng điểm có nguy cơ cháy rừng cao; đồng thời tổ chức trực và canh gác tại các khu vực có nguy cơ cháy rừng cấp III, IV và V theo quy định. Trong tháng, trên địa bàn tỉnh không xảy ra cháy rừng; lũy kế 7 tháng năm 2026, đã xảy ra 08 vụ cháy rừng, gây thiệt hại 2,9 ha rừng; so với cùng kỳ, số vụ cháy rừng tăng 03 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 1,7 ha.
4. Thuỷ sản
- Nuôi trồng thủy sản: Hoạt động nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh ổn định; các địa phương tập trung chăm sóc diện tích nuôi hiện có, tăng cường quản lý môi trường nuôi và chủ động phòng, chống dịch bệnh, tạo điều kiện thuận lợi cho thủy sản sinh trưởng, phát triển. Diện tích nuôi trồng thủy sản trong tháng ước đạt 495,8 ha, tăng 1,75% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 ước đạt 3.369,2 ha, tăng 1,48% (trong đó diện tích nuôi cá đạt 3.016,6 ha, tăng 1,23%; diện tích nuôi tôm đạt 318,9 ha, tăng 3,82%). Sản lượng nuôi trồng trong tháng ước đạt 2.433,2 tấn, tăng 0,33% so với cùng kỳ (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 439,2 tấn, tăng 0,92%); lũy kế 7 tháng năm 2026 ước đạt 16.323,2 tấn, tăng 0,43% (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 2.741,4 tấn, tăng 4,30%)
- Khai thác thủy sản: Từ đầu năm đến nay, tình hình thời tiết và ngư trường tương đối thuận lợi; nguồn lợi cá cơm, cá nục xuất hiện khá dày tạo điều kiện cho ngư dân duy trì và mở rộng khai thác. Sản lượng một số nghề như lưới kéo, vây rút chì, lưới rê, mành và các nghề khai thác ven bờ tiếp tục đạt khá. Ngư trường khai thác chủ yếu tập trung tại vùng ven bờ, vùng lộng trong tỉnh, khu vực phía nam đảo Phú Quý, đảo Côn Sơn, quần đảo Trường Sa, nhà giàn DK-1. Sản lượng khai thác thủy sản trong tháng ước đạt 25.156 tấn, tăng 4,37% so với cùng kỳ (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 25.057 tấn, tăng 4,17%); lũy kế 7 tháng năm 2026 ước đạt 145.414,1 tấn, tăng 3,58% (sản lượng khai thác biển đạt 144.901,8 tấn, tăng 3,46%).

- Sản xuất giống thủy sản: Trong tháng, thời tiết thuận lợi cho việc sản xuất tôm giống, nhu cầu con giống tăng sau thời gian thu hoạch và cải tạo ao nuôi để bước vào vụ mới, tạo điều kiện cho sản xuất và tiêu thụ tôm giống. Dự ước trong tháng, sản lượng tôm giống đạt 2,5 tỷ post, tăng 24,99% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 ước đạt 15,7 tỷ post, tăng 12,15%.
II. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển
1. Công nghiệp
Sản xuất công nghiệp tháng 7 tiếp tục tăng khá so với cùng kỳ, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng toàn ngành. Nhiều nhóm sản phẩm chủ lực đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ, thể hiện sự phục hồi và phát triển tích cực của ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh.
1.1. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp
Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng ước giảm 3,99% so với tháng trước và tăng 18,69% so với cùng kỳ. Trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 14,44%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 21,15%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 17,65%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 12,62%.
Tính chung 7 tháng năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tăng 10,48% so với cùng kỳ. Trong đó, công nghiệp khai khoáng tăng 19,12%, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 17,25%, sản xuất và phân phối điện tăng 6,77%, cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,96%. Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến gắn với chế biến sâu, đặc biệt là chế biến nông sản từ các vùng nguyên liệu cà phê, chè, rau, hoa, trái cây và cây công nghiệp, góp phần nâng cao giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Bên cạnh đó, chuỗi bauxite - alumin - nhôm tiếp tục khẳng định vai trò là ngành công nghiệp mũi nhọn với tiềm năng tạo đột phá tăng trưởng, trong khi ngành điện, đặc biệt là cụm nhiệt điện Vĩnh Tân, tiếp tục giữ vai trò là động lực quan trọng, bảo đảm nguồn năng lượng phục vụ sản xuất và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

1.2. Một số sản phẩm chủ yếu
- Sản phẩm đá xây dựng: Trong tháng sản lượng sản xuất ước đạt 396.848 m3, tăng 8,78% so với tháng trước và tăng 14,44% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 2.542.419 m3, tăng 19,12% so với cùng kỳ. Việc tăng đáng kể so với tháng trước và so với cùng kỳ là do tỉnh quyết liệt đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, tập trung mọi nguồn lực, giải pháp thu hút các dự án đầu tư triển khai trên địa bàn tỉnh, theo đó các doanh nghiệp ngành khai khoáng đã nắm bắt và chủ động nguồn nguyên vật liệu để phục vụ các công trình xây dựng.
- Các sản phẩm từ thủy sản được chế biến, bảo quản: Trong tháng ước đạt 2.194 tấn, chỉ tăng 0,59% so với tháng trước và tăng 22,85% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 14.352 tấn, tăng 18,68% so với cùng kỳ.
- Sản phẩm rau, quả qua chế biến, bảo quản: Trong tháng sản lượng ước đạt 3.523 tấn, giảm 12,73% so với tháng trước và tăng 17,77% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 24.141 tấn, tăng 16,07% so với cùng kỳ. Nguyên nhân giảm so với tháng trước là do các sản phẩm hạt điều chủ yếu tập trung trong 6 tháng đầu năm vào mùa thu hoạch, bắt đầu giảm từ đầu quý 3 khi hết mùa thu hoạch; tuy nhiên so với cùng kỳ và cộng dồn vẫn tăng cao là do các doanh nghiệp nhận được nhiều đơn hàng xuất khẩu hơn so với năm trước và chủ động nguồn hàng cho các tháng sắp tới, các sản phẩm sầu riêng cấp đông tăng sản lượng sản xuất do nhu cầu tăng.
- Đồ uống các loại: Trong tháng ước đạt 28.291 nghìn lít, giảm 8,5% so với tháng trước và tăng 34,6% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 161.901 nghìn lít, tăng 19,18% so với cùng kỳ, nguyên nhân là do các doanh nghiệp tăng cường sản xuất các sản phẩm rượu vang từ quả tươi hiện đang có xu hướng tiêu dùng ngày càng cao; tuy nhiên sản phẩm bia đóng chai và nước tinh khiết giảm so với tháng trước do nhu cầu tiêu thụ giảm.
- Sản phẩm giày, dép: Sản lượng trong tháng ước đạt 930 nghìn đôi, tăng 11,18% so với tháng trước và tăng 81,28% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 4.733 nghìn đôi, tăng 37,04% so với cùng kỳ là do Nhà máy giày Nam Hà Việt Nam mở rộng dây chuyền sản xuất.
- Sản phẩm phân bón: Sản lượng sản xuất ước đạt 12.700 tấn, tăng 5,75% so với tháng trước nhưng giảm 5,99% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 77.428 tấn, tăng 14,79% so với cùng kỳ; do các doanh nghiệp đã chủ động sản xuất phục vụ mùa sản xuất nông nghiệp năm 2026 trong điều kiện giá nông sản tiếp tục ổn định ở mức cao nên nhu cầu phân bón đầu tư cho nông nghiệp ngày càng tăng (đặc biệt là cây lâu năm có giá trị kinh tế cao như cà phê, tiêu, sầu riêng…).
- Sản phẩm Ôxit nhôm: Trong tháng ước đạt 122 nghìn tấn, tăng 9,23% so với tháng trước và tăng 6,83% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 842,772 nghìn tấn, tăng 1,42% so với cùng kỳ.
- Sản phẩm điện sản xuất: Sản lượng trong tháng ước đạt 3.243 triệu kwh, giảm 7,65% so với tháng trước và tăng 17,31% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 21.453 triệu kwh, tăng 6,55% so với cùng kỳ.
- Sản phẩm điện thương phẩm: Trong tháng sản lượng ước đạt 489 triệu kwh, tăng 4,68% so với tháng trước và tăng 7,88% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 3.495 triệu kwh tăng 8,4% so với cùng kỳ. Nguyên nhân do song song với sự phát triển của ngành chế biến chế tạo thì khối lượng điện thương phẩm tiêu thụ phục vụ trong ngành này cũng tăng theo; tuy nhiên tốc độ không quá cao là do các đơn vị sản xuất cũng như người tiêu dùng có ý thức tiết kiệm điện cũng như hưởng ứng việc sử dụng năng lượng xanh (lắp đặt hệ thống điện mặt trời mái nhà tự sản tự tiêu).
1.3. Chỉ số sử dụng lao động
Chỉ số sử dụng lao động trong tháng giảm 1,75% so với tháng trước và tăng 5,07% so cùng kỳ; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng giảm 2,84%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,19%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 1,70%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,95%.
Theo loại hình doanh nghiệp, chỉ số sử dụng lao động trong tháng của khối doanh nghiệp nhà nước tăng 8,83% so với cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 6,03%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm 0,86%.
Tính chung 7 tháng năm 2026, chỉ số sử dụng lao động tăng 5,76%; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng giảm 2,46%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,01%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 2,7%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,04%.
Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng cao so với cùng kỳ là một tín hiệu tích cực, các doanh nghiệp tuyển dụng lao động phục vụ cho hoạt động sản xuất; dự báo thị trường lao động trong các ngành công nghiệp đang phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới.
1.4. Tình hình doanh thu của doanh nghiệp hoạt động ngành công nghiệp
Doanh thu sản xuất công nghiệp trong tháng giảm 1,6% so với tháng trước do ảnh hưởng của hoạt động điều tiết vận hành hệ thống năng lượng; tuy nhiên vẫn tăng 17,48% so với cùng kỳ. Tính chung 7 tháng năm 2026, doanh thu toàn ngành tăng 7,9% so với cùng kỳ, cho thấy khu vực công nghiệp tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định và đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Kết quả này phản ánh hiệu quả của các chính sách hỗ trợ sản xuất, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, góp phần củng cố năng lực sản xuất, ổn định chuỗi cung ứng và nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm công nghiệp.
Theo nhóm ngành, doanh thu ngành khai khoáng tăng 7,46% so với tháng trước và tăng 15,87% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 tăng 16,81%, chủ yếu nhờ các doanh nghiệp nâng cao công suất khai thác, đáp ứng nhu cầu nguyên vật liệu cho các dự án hạ tầng giao thông trọng điểm. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực tăng trưởng chính với doanh thu tăng 6% so với tháng trước, tăng 20,44% so với cùng kỳ và lũy kế 7 tháng năm 2026 tăng 11,62%, nhờ sự phát triển của chế biến nông sản, thực phẩm và sản xuất vật liệu xây dựng phục vụ đầu tư công. Trong khi đó, doanh thu ngành sản xuất và phân phối điện giảm 6,05% so với tháng trước do công tác bảo trì, điều tiết vận hành nhưng vẫn tăng 15,75% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 tăng 5,79%, tiếp tục giữ vai trò bảo đảm an ninh năng lượng cho sản xuất và đời sống. Ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng nhẹ 0,73% so với tháng trước và tăng 13,81% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 tăng 8,54%, đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất, sinh hoạt và góp phần nâng cao chất lượng môi trường trên địa bàn.
1.5. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp (KCN)
Hoạt động thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp tục đạt kết quả tích cực. Trong tháng (15/6 - 15/7/2026), các khu công nghiệp thu hút thêm 02 dự án với tổng vốn đăng ký 2,5 triệu USD và 43,9 tỷ đồng, diện tích thuê đất 2,06 ha. Lũy kế 7 tháng năm 2026, toàn tỉnh thu hút 13 dự án đầu tư (02 dự án FDI và 11 dự án trong nước), đạt 76,47% kế hoạch về số dự án; tổng vốn đăng ký đạt 570,3 tỷ đồng và 2,7 triệu USD, diện tích thuê đất 21,04 ha. Đến nay, các khu công nghiệp có 251 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 55.211,5 tỷ đồng và 517,6 triệu USD; tỷ lệ lấp đầy đạt 55,73%, tạo nền tảng quan trọng để phát triển công nghiệp, thu hút đầu tư và giải quyết việc làm trên địa bàn.
Cùng với công tác thu hút đầu tư, hạ tầng các khu công nghiệp tiếp tục được quan tâm hoàn thiện. Hiện có 175 doanh nghiệp đang hoạt động trong các khu công nghiệp; trong tháng, 6/14 khu công nghiệp triển khai đầu tư xây dựng và duy tu hạ tầng với giá trị thực hiện 22,07 tỷ đồng, đạt 2,5% kế hoạch vốn năm 2026. Các hạng mục tập trung vào san lấp mặt bằng, xây dựng giao thông nội bộ, hệ thống thoát nước, xử lý nước thải và duy tu hạ tầng kỹ thuật, góp phần nâng cao năng lực tiếp nhận các dự án đầu tư mới và từng bước hoàn thiện hệ thống hạ tầng các khu công nghiệp của tỉnh. Cụ thể:
- KCN Phan Thiết giai đoạn 1: Chủ đầu tư duy tu cây xanh. Giá trị đầu tư hạ tầng trong tháng 0,02/0,82 tỷ đồng đạt 2,44% kế hoạch năm 2026.
- KCN Hàm Kiệm I: Chủ đầu tư duy tu cây xanh, duy tu giao thông trong KCN. Giá trị đầu tư hạ tầng trong tháng 0,15/22,79 tỷ đồng đạt 0,66% kế hoạch năm 2026.
- KCN Hàm Kiệm II: Chủ đầu tư san lấp mặt bằng KCN; duy tu cây xanh trong KCN; duy tu và thi công các tuyến đường trong KCN. Giá trị đầu tư hạ tầng trong tháng 10,5/205 tỷ đồng đạt 5,12% kế hoạch năm 2026.
- KCN Sông Bình: Chủ đầu tư duy tu cây xanh trong KCN; tiếp tục thi công các tuyến đường giao thông (đường D1, D3, N4, N6) trong KCN. Giá trị đầu tư hạ tầng trong tháng 0,15/59,07 tỷ đồng đạt 0,25% kế hoạch năm 2026.
- KCN Tuy Phong: Chủ đầu tư triển khai thi công hệ thống thoát nước mưa tuyến D2 và các tuyến giao thông. Giá trị đầu tư hạ tầng trong tháng 0,25 tỷ đồng.
- KCN Tân Đức: Chủ đầu tư tiếp tục đền bù giải tỏa KCN những diện tích đất còn lại; dọn dẹp và thi công san lấp mặt bằng KCN, thi công các tuyến đường trong KCN (D2, D3, D4, N1, N2, N3), nhà máy xử lý nước thải. Giá trị đầu tư hạ tầng trong tháng 11/473 tỷ đồng đạt 2,33% kế hoạch năm 2026.
Tình hình thu hút các dự án đầu tư tại các khu công nghiệp:
- KCN Lộc Sơn: Thu hút được 56 dự án đầu tư (09 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 47 dự án đầu tư có vốn trong nước).
- KCN Phú Hội: Thu hút được 32 dự án đầu tư (11 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 21 dự án đầu tư có vốn trong nước).
- KCN Phan Thiết: Giai đoạn 2 thu hút được 12 dự án đầu tư (02 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 10 dự án đầu tư có vốn trong nước).
- KCN Tâm Thắng: Thu hút được 49 dự án đầu tư (05 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 44 dự án đầu tư có vốn trong nước).
- KCN Nhân Cơ: Thu hút được 01 dự án.
- Các KCN đang xây dựng, chưa thu hút dự án đầu tư: KCN Tuy Phong; KCN Sơn Mỹ 1; KCN Sơn Mỹ 2; KCN Phú Bình; KCN Nhân Cơ 2.
2. Đầu tư phát triển
Thực hiện vốn đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trong tháng 7 có cải thiện so với cùng kỳ, nhưng tiến độ lũy kế vẫn chậm so với yêu cầu. Các dự án hạ tầng giao thông, thủy lợi và khu công nghiệp đang bước vào giai đoạn thi công, song vướng mắc về giải phóng mặt bằng, thủ tục đất đai, vật liệu xây dựng và năng lực tổ chức thực hiện tiếp tục ảnh hưởng đến khối lượng đầu tư.
Trong tháng, vốn đầu tư thực hiện từ ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 1.308,5 tỷ đồng, tăng 20,97% so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 1.048,4 tỷ đồng, chiếm 80,11% trong tổng số vốn nhà nước thực hiện trên địa bàn và tăng 15,61% so với cùng kỳ (vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 462 tỷ đồng, tăng 30,3% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 193,1 tỷ đồng, giảm 1,85%; vốn nước ngoài 15,9 tỷ đồng, tăng 1,31%; vốn xổ số kiến thiết 371,1 tỷ đồng, tăng 10,29%; vốn khác 6,3 tỷ đồng, tăng 85,01%); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 260,2 tỷ đồng, chiếm 19,8% trong tổng số vốn nhà nước thực hiện trên địa bàn và tăng 48,79% so với cùng kỳ.
Tính chung 7 tháng năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 6.068,5 tỷ đồng, đạt 30,17% so với kế hoạch năm, tăng 11,55% so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 5.310,5 tỷ đồng, tăng 6,81% so với cùng kỳ (vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh, vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 2.432,5 tỷ đồng, tăng 26,25% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 804,5 tỷ đồng, giảm 39,62%; vốn nước ngoài ước đạt 84,3 tỷ đồng, giảm 23,8%; vốn xổ số kiến thiết ước đạt 1.955,9 tỷ đồng, tăng 23,51%; vốn khác ước đạt 33,2 tỷ đồng, tăng 79,41%); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 758 tỷ đồng, tăng 61,91% so với cùng kỳ. Được sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp lãnh đạo, tình hình thực hiện các dự án hạ tầng trọng điểm như giao thông, thủy lợi, và các khu công nghiệp đẩy nhanh tiến độ, tích cực triển khai thực hiện. Các dự án dự kiến khởi công mới được khẩn trương hoàn thiện hồ sơ, phân bổ nguồn vốn.

Trong tháng (từ ngày 15/6-14/7/2026) toàn tỉnh có 360 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, giảm 34,66% so với cùng kỳ; 75 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 1,32%; 163 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, tăng 12,41%; 162 doanh nghiệp giải thể, tăng 92,86%.
Tính chung 7 tháng năm 2026, toàn tỉnh có 2.732 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 34,52% so với cùng kỳ; 628 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 9,03%; 1.342 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, giảm 1,47%; 642 doanh nghiệp giải thể, tăng 74,46% (tương ứng 274 doanh nghiệp). Tổng số vốn đăng ký của doanh nghiệp đạt 14.685,6 tỷ đồng, tăng 38,46%.
Về thu hút đầu tư (tính đến ngày 15/7/2026), toàn tỉnh có 38 dự án đầu tư cấp mới với tổng vốn đăng ký đầu tư 165.975,4 tỷ đồng; 33 dự án đầu tư được điều chỉnh chủ trương đầu tư/điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Lũy kế đến ngày 15/7/2026, trên địa bàn tỉnh có 2.957 dự án đầu tư còn hiệu lực hoạt động với tổng vốn đầu tư 938.690 tỷ đồng (trong đó: có 246 dự án FDI còn hiệu lực hoạt động, với tổng vốn đăng ký đầu tư đạt 224.968 tỷ đồng).
III. Thương mại; giá cả; du lịch; giao thông vận tải
Tình hình thương mại của tỉnh trong tháng hoạt động tương đối ổn định. Ngoài việc cung cấp hàng hóa nhu cầu thiết yếu cho người dân, các cơ sở kinh doanh còn tăng lượng hàng hóa phục vụ cho du khách nên sức mua tăng so với cùng kỳ. Hoạt động du lịch diễn ra khá nhộn nhịp, dịp này đang vào mùa cao điểm du lịch hè đã thu hút nhiều du khách đến du lịch và nghỉ dưỡng. Dịch vụ lữ hành hoạt động ổn định và tiếp tục tăng cường phục vụ cho người dân và du khách. Hoạt động kinh doanh vận tải đường bộ ổn định đáp ứng nhu cầu vận chuyển hành khách và hàng hóa trên thị trường kịp thời; vận tải đường thuỷ diễn ra thông suốt phục vụ cho du khách và người dân đảo Phú Quý.
1. Thương mại
1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ
Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ trong tháng đạt 17.647,4 tỷ đồng, tăng 3,82% so với tháng trước và tăng 24,81% so với cùng kỳ. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 10.467,7 tỷ đồng, tăng 2,3% so với tháng trước và tăng 22,63% so với cùng kỳ; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 3.967,9 tỷ đồng, tăng 7,67% so với tháng trước và tăng 32,98% so với cùng kỳ; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 3.211,9 tỷ đồng, tăng 4,26% so với tháng trước và tăng 22,59% so với cùng kỳ.
Lũy kế 7 tháng năm 2026 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ đạt 114.927,3 tỷ đồng, tăng 18,08% so với cùng kỳ. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 70.477,9 tỷ đồng, tăng 16,56% so với cùng kỳ; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành đạt 23.554,6 tỷ đồng, tăng 24% so với cùng kỳ; doanh thu các ngành dịch vụ khác đạt 20.894,8 tỷ đồng, tăng 16,93% so với cùng kỳ.

1.2. Công tác quản lý thị trường
Công tác quản lý thị trường được tăng cường, tập trung vào xăng dầu, hàng giả, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và gian lận thương mại. Trong tháng, lực lượng chức năng kiểm tra 111 vụ, phát hiện 101 vụ vi phạm, xử lý 123 vụ (22 vụ chuyển từ kỳ trước sang) với tổng số tiền xử phạt 1.176,2 triệu đồng (trong đó: xử phạt hành chính 1.129,2 triệu đồng); trị giá hàng hóa xử phạt 609,3 triệu đồng. Lũy kế từ ngày 15/12/2025 đến 14/7/2026, đã kiểm tra 909 vụ, xử lý 843 vụ, số tiền xử phạt 6.917 triệu đồng, trị giá hàng hóa vi phạm 6.735 triệu đồng. Kết quả này góp phần ổn định thị trường, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và môi trường kinh doanh lành mạnh.
2. Giá tiêu dùng (CPI)
Trong tháng Bảy và 7 tháng năm 2026, tình hình kinh tế - xã hội tiếp tục duy trì xu hướng phục hồi và tăng trưởng; hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của người dân cơ bản ổn định. Tuy nhiên, thị trường hàng hóa và dịch vụ vẫn chịu tác động của nhiều yếu tố như chi phí sản xuất, chi phí vận tải, nhu cầu tiêu dùng theo mùa vụ, cùng với diễn biến giá cả trên thị trường thế giới biến động, qua đó ảnh hưởng trực tiếp đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng tăng 0,05% so với tháng trước, tăng 0,65% so với tháng 12/2025 và tăng 3,74% so với cùng kỳ. Bình quân 7 tháng năm 2026, CPI tăng 4,3% so với cùng kỳ.
So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 08 nhóm hàng tăng giá: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,75%; Đồ uống và thuốc lá tăng 0,73%; May mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,53%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,13%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,13%; Thông tin và truyền thông tăng 0,28%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,35%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,42%. Có 03 nhóm hàng giảm giá: Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 1,22%; Giao thông giảm 1,78%; Giáo dục giảm 0,49%.
* Nguyên nhân tăng/giảm CPI trong tháng
- Nguyên nhân tăng: Giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,75% so tháng trước, do giá nguyên vật liệu chế biến, giá thuê mặt bằng và thuê nhân công tăng. Đồng thời trong tháng 7 mùa du lịch hè nhu cầu ăn uống bên ngoài tăng. Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,45% do nhu cầu xây dựng tăng cùng với chi phí đầu vào tăng nên giá một số mặt hàng vật liệu xây dựng như: sắt, thép, xi măng và giá nhân công xây dựng tăng theo. Tháng này là thời điểm học sinh nghỉ hè, nhu cầu du lịch tăng dẫn tới chỉ số giá nhóm du lịch trọn gói tăng 1,77%. Mức lương cơ sở tăng 190.000 đồng/tháng từ ngày 01/7/2026 theo Nghị định số 161/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026, theo đó chỉ số giá nhóm bảo hiểm y tế tăng 8,12% so với tháng trước.
- Nguyên nhân giảm: Giá gas trong tháng giảm 11,26% so với tháng trước, do giá bán lẻ trong nước điều chỉnh giảm 66.000 đồng/bình 12 kg so với tháng trước. Giá xăng dầu trong nước được điều chỉnh vào các ngày 01, 02, 09, 16 và 23 tháng 7/2026, tính bình quân chung trong tháng chỉ số giá mặt hàng xăng giảm 4,04% so tháng trước; giá dầu diezel giảm 9,19%.
Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 7 tháng năm 2026 tăng 4,3% so với bình quân cùng kỳ năm 2025.
* Nguyên nhân tác động đến CPI bình quân 7 tháng năm 2026
CPI bình quân 7 tháng năm 2026 tăng chủ yếu do giá nhiều nhóm hàng hóa và dịch vụ thiết yếu duy trì xu hướng tăng so với cùng kỳ năm trước, đặc biệt là nhóm lương thực, thực phẩm, nhà ở và vật liệu xây dựng, giao thông và giáo dục. Trong đó, nhóm thực phẩm tăng 4,37%, làm CPI chung tăng 1,09 điểm phần trăm, chủ yếu do giá thịt lợn và thịt gia cầm tăng khi nguồn cung còn hạn chế trong khi nhu cầu tiêu dùng cao vào các dịp lễ, Tết. Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,85%, góp phần làm CPI tăng 1,04 điểm phần trăm do giá vật liệu xây dựng và giá thuê nhà tăng; giá gas trong nước cũng tăng 16,13% theo xu hướng giá gas thế giới. Bên cạnh đó, nhóm giao thông tăng 5,15%, làm CPI tăng 0,59 điểm phần trăm do giá nhiên liệu tăng và giá dịch vụ vận tải hành khách điều chỉnh theo chi phí đầu vào. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống ngoài gia đình tăng 4,92%, làm CPI tăng 0,41 điểm phần trăm; nhóm giáo dục tăng 7,10%, góp phần làm CPI tăng 0,34 điểm phần trăm do một số cơ sở giáo dục điều chỉnh học phí. Ngoài ra, giá đồ uống, thuốc lá; may mặc, giày dép và thiết bị, đồ dùng gia đình cũng tăng do chi phí nguyên vật liệu, sản xuất và vận chuyển tăng.
Ở chiều ngược lại, nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,24%, góp phần kiềm chế mức tăng CPI nhờ giá các dòng điện thoại đời cũ giảm do các chương trình khuyến mại và kích cầu của doanh nghiệp.

3. Hoạt động du lịch
Mùa hè 2026, du lịch Lâm Đồng diễn ra sôi động với chuỗi hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể thao và lễ hội được tổ chức trên nhiều địa bàn, tạo sức hút đối với người dân và du khách. Nổi bật là chương trình “Hoài niệm trăm năm 2”, Âm nhạc đường phố, Lễ hội Cầu ngư Phan Thiết, Lễ hội Nghinh Ông Quan Thánh Đế Quân xuất du, Ngày hội Du lịch, Mua sắm và Giao lưu ẩm thực Việt,… Các hoạt động không chỉ góp phần bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa đặc trưng mà còn quảng bá hình ảnh Lâm Đồng, đa dạng về không gian, sản phẩm và trải nghiệm du lịch.
Tiếp nối đà sôi động của mùa hè, Tháng Du lịch Lâm Đồng 2026 được tổ chức với nhiều sự kiện quy mô lớn như Lễ công bố mở lại Cảng Hàng không quốc tế Liên Khương, Diễn đàn Du lịch Quốc gia, Lễ hội Hoa - Rau - Quả, Festival Ẩm thực, Festival Khinh khí cầu và Drone Show, Gala quốc tế “LamDong Night”, Ngày Văn hóa - Du lịch Lâm Đồng tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đặc biệt, việc Cảng Hàng không quốc tế Liên Khương dự kiến hoạt động trở lại từ giữa tháng 8 sẽ mở rộng kết nối với các trung tâm kinh tế, du lịch trong nước và quốc tế, tạo điều kiện thu hút khách, xúc tiến đầu tư và thúc đẩy du lịch Lâm Đồng tăng tốc trong những tháng cuối năm 2026.
Lượt khách phục vụ trong tháng ước đạt đạt 2.324,7 nghìn lượt, tăng 12,93% so tháng trước và tăng 27,3% so với cùng kỳ (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 80,9 nghìn lượt, tăng 14,77% so với tháng trước và tăng 13,44% so với cùng kỳ); ngày khách phục vụ ước đạt 4.234,5 nghìn ngày khách, tăng 12,41% so với tháng trước và tăng 29,05% so với cùng kỳ. Lượt khách quốc tế trong tháng ước đạt 96,5 nghìn lượt khách, tăng 3,23% so với tháng trước và tăng 11,88% so với cùng kỳ; ngày khách phục vụ ước đạt 310,1 nghìn ngày khách, tăng 3,86% so với tháng trước và tăng 13,25% so với cùng kỳ.
Lũy kế 7 tháng năm 2026 lượt khách phục vụ đạt 14.211,5 nghìn lượt, tăng 18,58% so với cùng kỳ (trong đó lượt khách trong ngày đạt 505,9 nghìn lượt, tăng 13,16% so với cùng kỳ); ngày khách phục vụ đạt 26.433,7 nghìn ngày khách, tăng 20,47% so với cùng kỳ. Lượt khách quốc tế lũy kế 7 tháng năm 2026 đạt 899,9 nghìn lượt, tăng 15,1% so với cùng kỳ; ngày khách quốc tế đạt 2.869,2 nghìn ngày khách, tăng 18,37% so với cùng kỳ.
Doanh thu dịch vụ lưu trú trong tháng ước đạt 810,5 tỷ đồng, tăng 11,51% so với tháng trước và tăng 31,93% so với cùng kỳ; dịch vụ ăn uống ước đạt 3.091,9 tỷ đồng, tăng 6,63% so với tháng trước và tăng 32,97% so với cùng kỳ; du lịch lữ hành ước đạt 65,4 tỷ đồng, tăng 11,57% so với tháng trước và tăng 48,6% so với cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng năm 2026 doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 4.794,4 tỷ đồng, tăng 23,54% so với cùng kỳ; dịch vụ ăn uống đạt 18.370,5 tỷ đồng, tăng 23,78% so với cùng kỳ; dịch vụ lữ hành đạt 389,6 tỷ đồng, tăng 42,61% so với cùng kỳ.

Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 6.385,9 tỷ đồng, tăng 11,27% so với tháng trước và tăng 28,12% so với cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng năm 2026 doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 39.336,4 tỷ đồng, tăng 21,96% so với cùng kỳ.
4. Hoạt động dịch vụ khác
Tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác trong tháng ước đạt 3.211,9 tỷ đồng, tăng 4,26% so với tháng trước và tăng 22,59% so với cùng kỳ. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 767,4 tỷ đồng, tăng 5,68% so với tháng trước và tăng 10,32% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 176,7 tỷ đồng, tăng 0,95% so với tháng trước và tăng 13,15% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 147,1 tỷ đồng, tăng 2,61% so với tháng trước và tăng 20,48% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 258,2 tỷ đồng, tăng 3,13% so với tháng trước và tăng 17,37% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 1.529,2 tỷ đồng, tăng 4,55% so với tháng trước và tăng 33,48% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 333,4 tỷ đồng, tăng 3,19% so với tháng trước và tăng 18,75% so với cùng kỳ.
Lũy kế 7 tháng năm 2026 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 20.894,8 tỷ đồng, tăng 16,93% so với cùng kỳ. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 5.052 tỷ đồng, tăng 10,61% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 1.181 tỷ đồng, tăng 11,37% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo đạt 1.034,1 tỷ đồng, tăng 20,77% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội ước đạt 1.699,1 tỷ đồng, tăng 15,69% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 9.785,1 tỷ đồng, tăng 22,29% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ khác đạt 2.143,6 tỷ đồng, tăng 11,89% so với cùng kỳ.
5. Hoạt động vận tải
Hoạt động vận tải, kho bãi trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực nhờ sản xuất, kinh doanh, thương mại và dịch vụ phát triển ổn định, làm gia tăng nhu cầu vận chuyển hàng hóa và hành khách. Đồng thời, hệ thống hạ tầng giao thông ngày càng được đầu tư, nâng cấp và kết nối đồng bộ đã nâng cao hiệu quả khai thác, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp mở rộng hoạt động và gia tăng doanh thu. Trong tháng doanh thu vận tải, kho bãi ước đạt 1.316,5 tỷ đồng, tăng 5,14% so với tháng trước và tăng 30,05% so với cùng kỳ. Tính chung 7 tháng năm 2026 doanh thu ước đạt 8.427,1 tỷ đồng, tăng 23,82% so với cùng kỳ, phản ánh xu hướng tăng trưởng bền vững của lĩnh vực vận tải, đáp ứng tốt nhu cầu lưu thông hàng hóa và đi lại của người dân.
- Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong tháng ước đạt 3.106,5 nghìn HK, tăng 3,79% so với tháng trước và tăng 19,59% so với cùng kỳ; lượt khách luân chuyển ước đạt 445.767,3 nghìn HK.Km, tăng 3,9% so với tháng trước và tăng 19,65% so với cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng năm 2026, lượt khách vận chuyển ước đạt 20.029,5 nghìn HK, tăng 17,29% so với cùng kỳ; lượt khách luân chuyển ước đạt 2.883.969,7 nghìn HK.Km, tăng 17,86% so với cùng kỳ.
- Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong tháng ước đạt 2.370,6 nghìn tấn, tăng 6,83% so với tháng trước và tăng 30,12% so với cùng kỳ; khối lượng luân chuyển ước đạt 348.453 nghìn tấn.Km, tăng 6,86% so với tháng trước và tăng 30,57% so với cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng năm 2026, khối lượng vận chuyển ước đạt 14.631,4 nghìn tấn, tăng 19,09% so với cùng kỳ; khối lượng luân chuyển ước đạt 2.152.591,4 nghìn tấn.Km, tăng 19,62% so với cùng kỳ.
- Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.316,5 tỷ đồng, tăng 5,14% so với tháng trước và tăng 30,05% so với cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng năm 2026 ước đạt 8.427,1 tỷ đồng, tăng 23,82% so với cùng kỳ. Trong đó doanh thu vận tải hành khách ước đạt 2.909,3 tỷ đồng, tăng 28,16% so với cùng kỳ; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 4.107,1 tỷ đồng, tăng 25,89% so với cùng kỳ; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.100 tỷ đồng, tăng 13,65% so với cùng kỳ; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 310,6 tỷ đồng, tăng 1,77% so với cùng kỳ.

- Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân trong tháng ước đạt đạt 125 nghìn tấn trong đó xuất cảng 75 nghìn tấn (tro bay, cát, xỉ than, muối xá, quặng), nhập cảng 50 nghìn tấn (xi măng, cao lanh, máy móc, muối xá). Lũy kế 7 tháng năm 2026 ước đạt 1.749,3 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 1.584,8 nghìn tấn (muối xá, đá xá, tro bay, cát, xỉ than); nhập cảng 164,6 nghìn tấn (túi xi măng, cao lanh, bột đá, máy móc, muối xá).
IV. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng
1. Thu ngân sách nhà nước
Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước thực hiện 2.455,4 tỷ đồng, tăng 17,89% so với cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng năm 2026 ước thực hiện 21.233 tỷ đồng, bằng 61,66% kế hoạch năm và tăng 12,63% so với cùng kỳ, trong đó: thu nội địa ước thực hiện 19.618 tỷ đồng, bằng 60,04% kế hoạch năm và tăng 9,51%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước thực hiện 1.615 tỷ đồng, bằng 91,76% kế hoạch năm và tăng 72,08% so với cùng kỳ.

Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa lũy kế 7 tháng năm 2026 như: Thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước thực hiện 2.700 tỷ đồng (bằng 70,99% kế hoạch năm và tăng 2,6% so với cùng kỳ); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước thực hiện 1.040 tỷ đồng (bằng 75,38% kế hoạch năm và tăng 12,21%); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước thực hiện 5.399,6 tỷ đồng (bằng 80,74% kế hoạch năm và tăng 46,63%); thuế thu nhập cá nhân ước thực hiện 1.799,4 tỷ đồng (bằng 65,91% kế hoạch năm và giảm 2,60%); các khoản thu về nhà, đất ước thực hiện 2.759,3 tỷ đồng (bằng 37,41% kế hoạch năm và giảm 4,54%); thu từ xổ số kiến thiết ước thực hiện 3.400 tỷ đồng (bằng 58,62% kế hoạch năm và tăng 10,26%).
2. Chi ngân sách nhà nước
Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước thực hiện 4.455,5 tỷ đồng, lũy kế 7 tháng năm 2026 ước 30.244,2 tỷ đồng, bằng 61,98% kế hoạch năm, trong đó: chi đầu tư phát triển 12.907,4 tỷ đồng, bằng 97,69% kế hoạch năm; chi thường xuyên 17.323 tỷ đồng, bằng 57,06% kế hoạch năm.
3. Hoạt động tín dụng
Công tác huy động vốn: Đến 30/6/2026, huy động vốn của các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn tỉnh đạt 247.439 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 18.163 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 7,92%. Trong đó, huy động bằng đồng Việt Nam đạt 244.626 tỷ đồng (chiếm 98,86% tổng huy động vốn); huy động bằng ngoại tệ đạt 2.813 tỷ đồng, (chiếm 1,14% tổng huy động vốn).
Ước đến 31/7/2026, huy động vốn của các TCTD trên địa bàn toàn tỉnh đạt 250.000 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng khoảng 20.724 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 9,04%.
Hoạt động tín dụng: Đến 30/6/2026, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh đạt 377.423 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 6.440 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 1,74%. Trong đó, dư nợ cho vay bằng đồng Việt Nam đạt 375.332 tỷ đồng (chiếm 99,45% tổng dư nợ); dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 2.091 tỷ đồng (chiếm 0,55% tổng dư nợ). Dư nợ cho vay ngắn hạn là 267.009 tỷ đồng, dư nợ cho vay trung dài hạn là 110.414 tỷ đồng.
Ước đến 31/7/2026, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn toàn tỉnh đạt 379.500 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng khoảng 8.516 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 2,3%.
Lãi suất tiền gửi: Lãi suất huy động bằng VND bình quân: tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng ở mức 0,3% - 0,4%/năm, kỳ hạn 1 tháng đến dưới 6 tháng ở mức 4,2% - 4,6%/năm, kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng ở mức 7% - 7,9%/năm, kỳ hạn trên 12 tháng trở lên ở mức 7% - 7,7%/năm. Lãi suất tiền gửi USD của TCTD ở mức 0%/năm đối với tiền gửi của cá nhân và tổ chức.
Lãi suất cho vay: Bằng VND bình quân của NHTM đối với các khoản cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh ở mức 9,1% - 10,5%/năm; cho vay ngắn hạn bình quân bằng VND đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 4%/năm; cho vay bằng USD bình quân ở mức 4,3% - 5,3%/năm.
Dư nợ cho vay: Đến 30/6/2026, dư nợ cho vay ngành du lịch - dịch vụ - thương mại trên địa bàn tỉnh đạt 185.476 tỷ đồng, chiếm 49,14% tổng dư nợ tín dụng; ngành công nghiệp - xây dựng đạt 32.513 tỷ đồng, chiếm 8,62% tổng dư nợ tín dụng; ngành nông lâm thủy sản đạt 159.434 tỷ đồng, chiếm 42,24% tổng dư nợ tín dụng. Tỷ lệ nợ xấu trên địa bàn tỉnh được kiểm soát ở mức 1,8% trong tổng dư nợ tín dụng, không thay đổi so với cuối năm 2025.
V. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội
1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao
1.1. Hoạt động văn hóa
- Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Trong tháng đã thực hiện thay mới và trang trí pano, khẩu hiệu phục vụ công tác tuyên các nhiệm vụ chính trị và chào mừng kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2026); đồng thời tổ chức tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến người dân trên địa bàn tỉnh.
- Hoạt động văn hóa, văn nghệ: Đã tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ đặc biệt chào mừng kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2026); phục vụ tháng cao điểm chào Mùa hè Du lịch năm 2026 với chủ đề “Lâm Đồng - Bản giao hưởng xanh”; chương trình âm nhạc đường phố phục vụ Nhân dân và du khách hưởng ứng sự kiện tháng cao điểm chào Mùa hè Du lịch năm 2026 vào thứ 7 hàng tuần; chương trình nghệ thuật phục vụ Lễ khánh thành dự án Quảng trường trung tâm Gia Nghĩa; chương trình “Hoài Niệm Trăm Năm 2” tại Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng gồm các hoạt động khai mạc triển lãm bộ sưu tập “Hương thơm phương Nam”, ra mắt bộ ấn phẩm quảng bá Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng và trình diễn nghệ thuật thời trang áo dài. Ngoài ra, trong tháng đã tổ chức 07 buổi biểu diễn phục vụ chính trị; 01 tuần phim; 15 buổi biểu diễn văn nghệ và 75 buổi chiếu phim phục vụ cơ sở. Lũy kế 7 tháng năm 2026 (tính đến 14/7/2029), các đơn vị trên địa bàn tỉnh đã thực hiện 186 buổi biểu diễn văn nghệ (biểu diễn về cơ sở 180 buổi); tổ chức 580 buổi chiếu phim, 05 đợt phim, 02 tuần phim và 01 vở kịch tuyên truyền “Ngày Mai Tươi Sáng”.
- Hoạt động bảo tồn, bảo tàng:
+ Bảo tàng tỉnh: Đón 30.716 lượt khách, trong đó có 1.140 lượt khách quốc tế (Trong đó: Nhà trưng bày chính: 5.164 lượt; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 3.332 lượt; Di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên: 209 lượt; Cơ sở Bảo tàng Bình Thuận: 21.562 lượt; Cơ sở Bảo tàng Đăk Nông: 449 lượt). Lũy kế 7 tháng năm 2026 (tính đến ngày 13/7/2026) đã đón 201.744 lượt khách tham quan, trong đó có 15.568 lượt khách quốc tế (Nhà trưng bày chính: 50.612 lượt khách; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 35.442 lượt khách; Di tích quốc gia đặc biệt khảo cổ Cát Tiên: 6.841 lượt khách; Cơ sở Bảo tàng Bình Thuận: 100.423 lượt khách; Cơ sở Bảo tàng Đăk Nông: 8.426 lượt khách).
+ Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận: Tiếp đón 192 đoàn với 15.756 lượt khách (trong đó có 47 khách quốc tế); phục vụ 32 lễ viếng, 01 báo công, 01 tuyên dương, 01 kết nạp Đảng, 02 sinh hoạt chuyên đề. Lũy kế 7 tháng năm 2026 (tính đến ngày 10/7/2026) đã tiếp đón 1.267 đoàn khách tham quan với 90.663 lượt khách (trong đó có 298 khách nước ngoài); phục vụ: 169 lễ viếng, 09 báo công, 06 kết nạp Đoàn, 03 kết nạp Đảng, 02 lễ rước đuốc và 10 sinh hoạt chuyên đề; tổ chức triển lãm 03 đợt ảnh tư liệu, ảnh nghệ thuật (315 hình ảnh) và thực hiện 06 phóng sự tại Di tích Dục Thanh.
+ Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận trong kháng chiến chống Mỹ: Tiếp đón, phục vụ 12 đoàn với 1.292 lượt khách; lũy kế 7 tháng năm 2026 (tính đến ngày 14/7/2026) đã đón 14.562 lượt khách đến thăm viếng, tham quan, học tập, nghiên cứu, trải nghiệm.
- Hoạt động Thư viện: Cấp mới và gia hạn 360 thẻ (thiếu nhi 192 thẻ), phục vụ 285.332 lượt bạn đọc, luân chuyển 14.477 lượt tài liệu, trưng bày 990 bản sách và 02 mô hình nghệ thuật phục vụ nhiệm vụ chính trị. Ngoài ra đã tổ chức các hoạt động phục vụ hè cho các em thiếu nhi trên địa bàn với các hoạt động “Hè vui đọc sách - Viết cảm nhận sách”, “Thi đọc sách nhanh và phát triển tư duy”, “Vẽ tranh theo chủ đề”,... Lũy kế 7 tháng năm 2026 (tính đến ngày 14/7/2026), Thư viện tỉnh cấp mới và gia hạn 5.950 thẻ (thiếu nhi 4.417 thẻ), phục vụ 1.683.233 lượt bạn đọc, luân chuyển 459.559 lượt tài liệu và trưng bày 144.063 bản sách phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương và độc giả.
1.2. Hoạt động thể thao
- Thể dục thể thao quần chúng: Phối hợp với Uỷ ban Olympic Việt Nam tổ chức Chương trình thể thao cộng đồng tại Phường Phan Thiết; phối hợp với Hiệp hội Thể thao Công an Nhân dân Việt Nam tổ chức Liên hoan khiêu vũ Thể thao Quốc tế Cúp CAND mở rộng; tổ chức Giải Vô địch Triathlon trẻ và U23 quốc gia năm 2026. Ngoài ra đã tổ chức các môn Bóng đá 11 người, Võ thuật Cổ truyền, Bóng chuyền 6 người, Cầu lông trong khuôn khổ Đại hội thể dục thể thao tỉnh.
- Thể thao thành tích cao: Trong tháng, cử các đoàn tham gia 11 giải thể thao, đạt 123 huy chương (28 HCV, 31 HCB, 64 HCĐ). Tính đến thời điểm ngày 15/7/2026, đã tham dự 62 giải thể thao quốc gia và quốc tế, kết quả đạt được 459 huy chương (91 HCV, 121 HCB, 247 HCĐ), trong đó có 1 huy chương bạc Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X và 9 huy chương quốc tế (3 HCV, 1 HCB, 5 HCĐ).
2. Giáo dục và đào tạo
Hoạt động giáo dục duy trì ổn định. Đã tổ chức thành công kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 nghiêm túc, an toàn và đúng quy chế. Kết quả, toàn tỉnh có 39.082/39.652 thí sinh được công nhận tốt nghiệp, đạt tỷ lệ 98,56% (trong đó hệ THPT đạt 99,18%, hệ GDTX đạt 91,05%); toàn tỉnh có 49/131 đơn vị đạt tỷ lệ tốt nghiệp 100%.
Đến nay, tỉnh đã triển khai thực hiện và hiệu quả chương trình giáo dục mầm non, phổ thông, giáo dục thường xuyên, phổ cập giáo dục và xóa mù chữ; đảm bảo công bằng trong tiếp cận giáo dục cho mọi đối tượng, nhất là các đối tượng là người dân tộc thiểu số, người sống vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, trẻ mồ côi, trẻ em không nơi nương tựa, người khuyết tật, người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo. Tính đến ngày 10/7/2026, toàn tỉnh có 947/1.433 trường công lập đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 66,09%.
3. Y tế
Trong tháng tiếp tục tăng cường công tác giám sát, phát hiện và tích cực triển khai các biện pháp dự phòng, khoanh vùng, xử lý khi phát hiện các ca bệnh truyền nhiễm; tiếp tục thực hiện đánh giá tình hình dịch bệnh truyền nhiễm tại các địa phương có số mắc cao để triển khai các biện pháp phòng chống dịch và xử lý kịp thời các ổ dịch phát sinh; đồng thời chuẩn bị đầy đủ thuốc, hóa chất, vật tư phục vụ công tác phòng chống dịch và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh phục vụ người dân.
- Bệnh sốt xuất huyết: Trong tháng phát hiện 409 ca mắc sốt xuất huyết mới, tăng 221 ca so với tháng trước (188 ca) và giảm 58 ca so với cùng kỳ (467 ca); không có trường hợp tử vong. Lũy kế đến ngày 30/6/2026, toàn tỉnh có 1.578 ca mắc, giảm 68 ca so với cùng kỳ (1.646 ca). Trong tháng đã phát hiện và xử lý 69 ổ dịch; lũy kế đến ngày 30/6/2026 đã phát hiện xử lý 224 ổ dịch.
- Bệnh sốt rét: Trong tháng không xảy ra; lũy kế 7 tháng năm 2026, toàn tỉnh có 02 ca mắc bệnh sốt rét.
- Bệnh tay chân miệng: Trong tháng phát hiện 392 ca mắc, giảm 201 ca so với tháng trước và giảm 165 ca so với cùng kỳ. Lũy kế đến ngày 30/6/2026, toàn tỉnh có 2.757 ca mắc.
- Bệnh sởi: Trong tháng phát hiện 14 ca mắc, giảm 09 ca so với tháng trước và giảm 69 ca so với cùng kỳ. Lũy kế đến ngày 30/6/2026, toàn tỉnh có 83 ca mắc.
- Tiêm chủng mở rộng: Trong tháng đã tiêm chủng đầy đủ cho 4.054 trẻ dưới 1 tuổi; tiêm viêm gan B sơ sinh trước 24h sau sinh cho 3.540 trẻ; tiêm MR (phòng chống sởi và rubella) cho 4.273 trẻ; tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DPT) mũi 4 cho 4.329 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 1 cho 3.836 trẻ, mũi 2 cho 3.765 trẻ và mũi 3 cho 4.329 trẻ; ngoài ra đã tổ chức tiêm phòng uốn ván cho 3.992 phụ nữ có thai trên địa bàn tỉnh.
- Công tác phòng chống Phong: Duy trì tốt công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chí của Bộ Y tế. Trong tháng có 01 bệnh nhân phong mới. Toàn tỉnh còn quản lý 436 bệnh nhân; đang điều trị 04 bệnh nhân; đang giám sát 10 bệnh nhân; chăm sóc tàn tật cho 422 bệnh nhân; bệnh nhân hết quản lý là 02 người (01 người tử vong và 01 người chuyển đi nơi khác).
- Công tác phòng chống Lao: Chương trình chống lao tiếp tục được duy trì mục tiêu triển khai công tác chống lao tại 100% xã, phường, đặc khu. Trong tháng số bệnh nhân (BN) lao mới các thể thu nhận là 188 bệnh nhân, tỷ lệ BN lao mới các thể/dân số là 05 BN/100.000 dân; BN lao phổi có bằng chứng vi khuẩn học mới (AFB (+) và MTB) trong tháng là 04 BN/100.000 dân.
- Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng phát hiện 39 bệnh nhân nhiễm HIV mới, 05 bệnh nhân chuyển sang AIDS và có 01 trường hợp tử vong do AIDS. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 4.866 người mắc HIV, chuyển sang AIDS 1.795 người, tử vong 1.578 người.
- Công tác khám chữa bệnh: Trong tháng đã tổ chức khám bệnh cho 804.038 lượt bệnh nhân, số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 67.251 lượt người, tổng số ngày điều trị nội trú là 396.235 ngày, xét nghiệm cho 1.130.518 tiêu bản, chẩn đoán 269.020 hình ảnh và phẫu thuật 12.440 trường hợp. Ước 7 tháng năm 2026 tổ chức khám bệnh cho 2.985.641 lượt người; 243.585 lượt bệnh nhân điều trị nội trú với 1.256.544 ngày, số ngày điều trị nội trú trung bình/bệnh nhân 6,14 ngày; công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 98,67%; xét nghiệm cho 4.130.846 tiêu bản; chẩn đoán 1.013.824 hình ảnh và phẫu thuật cho 37.055 trường hợp.
- Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm: Trong tháng đã tổ chức kiểm tra tại 60 cơ sở thực phẩm, phát hiện 12 cơ sở vi phạm quy định về an toàn thực phẩm, đã xử phạt 120,5 triệu đồng. Trong tháng xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm (do độc tố trong nấm hái tại rừng thông Kinh tế mới Châu Sơn, xã D’ran) làm 07 người mắc và 01 người tử vong. Lũy kế 7 tháng năm 2026 xảy ra 02 vụ ngộ độc thực phẩm làm 104 người mắc và 01 người tử vong.
4. Thông tin, báo chí, xuất bản
- Báo chí và truyền thông: Thực hiện tốt công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; họp báo cung cấp thông tin về tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2026 và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 6 tháng cuối năm; đồng thời tuyên truyền các hoạt động “Chào Mùa du lịch hè 2026” và thường xuyên rà soát, theo dõi, xử lý các thông tin trên không gian mạng liên quan đến tỉnh Lâm Đồng.
- Xuất bản, in và phát hành: Thực hiện tốt hoạt động quản lý Nhà nước về xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm trên địa bàn tỉnh. Trong tháng đã cấp 02 giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh và 01 giấy phép xác nhận thay đổi thông tin đăng ký hoạt động cơ sở in.
5. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và người có công
5.1. Chính sách dân tộc
- Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ổn định; các chính sách an sinh xã hội và đầu tư trong vùng đồng bào DTTS và miền núi, đặc biệt là Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi được Nhà nước quan tâm triển khai. Hạ tầng thiết yếu tiếp tục được đầu tư hoàn thiện, bản sắc văn hóa truyền thống được gìn giữ và phát huy; đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào DTTS từng bước được cải thiện.
- Bản sắc văn hóa dân tộc vùng đồng bào DTTS được duy trì và phát huy; phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao phát triển sâu rộng; trên 90% xã, thôn có nhà văn hóa, thiết chế thể thao. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được triển khai đồng bộ, gắn với xây dựng nông thôn mới. Hệ thống thông tin, truyền thông được mở rộng, 100% xã có sóng phát thanh, truyền hình, internet, nhiều chương trình bằng tiếng dân tộc đáp ứng nhu cầu thông tin vùng đồng bào DTTS và miền núi.
- Hoạt động giáo dục tiếp tục được quan tâm, đầu tư. Công tác xây dựng các trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới và vùng sâu, vùng xa được triển khai tích cực để đầu năm học 2026-2027 đưa vào sử dụng. Toàn tỉnh duy trì hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú và các cơ sở giáo dục phổ thông tại địa bàn khó khăn, bảo đảm điều kiện học tập cho học sinh DTTS. Tỷ lệ huy động trẻ 5 tuổi ra lớp đạt trên 99%; tỷ lệ học sinh DTTS trong độ tuổi đến trường ở cấp tiểu học đạt 97,3%; trung học cơ sở đạt khoảng 90,0%; trung học phổ thông đạt trên 70,0%.
- Hệ thống y tế vùng đồng bào DTTS tiếp tục được quan tâm đầu tư nhằm từng bước nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe người dân. Các hoạt động khám chữa bệnh, tiêm chủng,… tiếp tục được triển khai có hiệu quả. Người dân, đặc biệt là hộ nghèo, cận nghèo và đồng bào DTTS được tiếp cận các dịch vụ y tế để khám chữa bệnh, qua đó góp phần giảm thiểu bệnh tật và nâng cao chất lượng sống cho người đồng bào DTTS.
5.2. Chính sách tôn giáo
Hoạt động của các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường, ổn định, chấp hành đúng quy định của pháp luật.
- Phật giáo: Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) tỉnh Lâm Đồng tổ chức Trại họp bạn Lục Hòa 2026 Gia đình Phật tử Lâm Đồng khu vực 1 cho khoảng 300 Huynh trưởng, đoàn sinh tại chùa Pháp Vân, xã Đức Trọng và tổ chức Liên trại huấn luyện Huynh trưởng sơ cấp Lộc Uyển và A Dục lần thứ I Gia đình Phật tử Lâm Đồng khu vực 2 cho khoảng 190 Huynh trưởng, đoàn sinh tại chùa Linh Sơn, xã Tánh Linh. Ngoài ra, các cơ sở thờ tự tổ chức nhiều khóa tu mùa hè cho thanh thiếu niên theo đạo Phật trên địa bàn tỉnh.
- Công giáo: Giáo phận Ban Mê Thuột tổ chức lễ Tĩnh huấn hiền mẫu; Tĩnh huấn Ban thường vụ Hội đồng giáo xứ tại Trung tâm hành hương Đồi Thánh Tâm, xã Đức Lập; mỗi cuộc lễ có khoảng 2.000 người là linh mục, tu sĩ, giáo dân trong giáo phận. Giáo phận Ban Mê Thuột khánh thành nhà thờ; làm phép nhà giáo lý; làm phép 14 chặng đàng thánh giá tại Giáo xứ Thiên Ân, xã Tuy Đức; tham dự có khoảng 1.000 người là linh mục, tu sĩ, giáo dân trong giáo phận. Giáo phận Đà Lạt chủ trì Thánh lễ đặt đá xây dựng nhà thờ Giáo xứ Xà Lùng, xã Hoà Ninh. Tham dự lễ có gần 1.000 người là linh mục, tu sĩ, giáo dân địa phương.
- Tin lành: Ban Đại diện Tin Lành Việt Nam (miền Nam) tỉnh Lâm Đồng thông báo phong phẩm Mục sư nhiệm chức 21 trường hợp; tổ chức lễ ra mắt các Chi hội Tin Lành Tô Rơ Ne, xã Hòa Ninh và Chi hội Tin Lành Bột Be, xã Hòa Ninh; mỗi buổi lễ có khoảng trên 600 người là chức sắc, chức việc, tín hữu trong và ngoài chi hội tham dự. Các tôn giáo khác trên địa bàn tỉnh hoạt động ổn định.
5.3. Chính sách người có công
Trong tháng đã giải quyết 258 hồ sơ về chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng và thân nhân người có công và giải quyết 230 hồ sơ về chế độ mai táng phí liên thông theo Đề án 06. Đã phê duyệt kinh phí hỗ trợ xây mới, sửa chữa nhà ở cho 03 người có công với cách mạng tại phường Hàm Thắng với kinh phí hỗ trợ 250 triệu đồng. Thực hiện chi trả trợ cấp ưu đãi hằng tháng kịp thời, đầy đủ, đúng đối tượng theo quy định; đã giải quyết cho 14.318 đối tượng nhận trợ cấp không dùng tiền mặt qua tài khoản cá nhân.
Hiện nay tỉnh tiếp tục phối hợp với Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh triển khai “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” do Ban Chỉ đạo 515 quốc gia phát động.
6. Hoạt động bảo hiểm
Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN được thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định. Tính đến ngày 30/6/2026, toàn tỉnh có 320.083 người tham gia BHXH, đạt 100,94% kế hoạch và tăng 15,90% so với cùng kỳ; 239.615 người tham gia BHTN, đạt 103,12% kế hoạch và tăng 13,96%; 3.134.199 người tham gia BHYT, đạt 98,79% kế hoạch và tăng 8,72%. Tỷ lệ bao phủ BHYT đạt 92,52% dân số.
Trong tháng 6/2026, đã giải quyết mới 11.243 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề cho 2.987 người (Trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 246 người; trợ cấp 1 lần cho 2.615 người; chế độ ốm đau cho 6.736 người; chế độ thai sản cho 1.321 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 325 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 2.826 người và hỗ trợ học nghề cho 161 người). Lũy kế đến ngày 30/6/2026, toàn tỉnh đã giải quyết mới 58.461 lượt người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả cho 10.319 người hưởng chế độ BHTN (Trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 981 người; trợ cấp 1 lần cho 13.746 người; chế độ ốm đau cho 34.049 người; chế độ thai sản cho 7.591 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 2.094 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 9.793 người và hỗ trợ học nghề cho 526 người).
7. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/6 - 14/7/2026)
Trong tháng xảy ra 58 vụ tai nạn giao thông, tăng 4 vụ so với tháng trước và giảm 15 vụ so với cùng kỳ; số người chết là 39 người, giảm 01 người so với tháng trước và giảm 14 người so với cùng kỳ; số người bị thương là 28 người, giảm 13 người so với tháng trước và giảm 16 người so với cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng năm 2026 toàn tỉnh xảy ra 403 vụ (trong đó có 05 vụ đường sắt), giảm 104 vụ so với cùng kỳ; số người chết 262 người, tương đương so với cùng kỳ; số người bị thương 258 người, giảm 137 người so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do người điều khiển phương tiện chạy quá tốc độ, thiếu quan sát, đi không đúng phần đường, lấn làn, qua đường bất cẩn, sử dụng rượu bia và vượt xe sai quy định.
8. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường
- Thiên tai: Trong tháng (từ ngày 25/6 - 23/7/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 03 vụ thiên tai do mưa lớn kèm theo lốc xoáy; thiên tai đã làm 02 căn nhà bị tốc mái, 10 ha lúa 80 ngày tuổi bị ảnh hưởng, xói lở 100 mét đường dân sinh, 26 cây sầu riêng 7 năm tuổi bị đổ ngã,... Lũy kế 7 tháng năm 2026, trên địa bàn tỉnh xảy ra 17 vụ thiên tai làm 01 người chết, 02 người bị thương, 08 căn nhà bị sập đổ hoàn toàn, 13 căn nhà bị hư hỏng, 153 căn bị ảnh hưởng nhẹ, 02 căn phòng làm việc bị tốc mái hoàn toàn, 10,6 ha lúa sạ bị ngập, 0,5 ha rau màu bị thiệt hại nặng, 69,6 ha cây lâu năm bị ảnh hưởng, 14 con gia sức bị cuốn trôi, khoảng 70.000 con gia cầm chết do ảnh hưởng của sét đánh, 03 tàu cá bị chìm và hư hỏng nhiều công trình, tài sản khác; ước tổng giá trị thiệt hại (qua kết quả đánh giá lại) là 29,66 tỷ đồng.
- Cháy nổ: Trong tháng (từ ngày 16/6 - 15/7/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 01 vụ cháy nổ, giảm 01 vụ so với tháng trước và giảm 03 vụ so với cùng kỳ; đang thống kê thiệt hại. Lũy kế 7 tháng năm 2026 toàn tỉnh xảy ra 40 vụ cháy, tăng 10 vụ so với cùng kỳ, làm 02 người chết và 02 người bị thương.
- Vi phạm môi trường: Trong tháng không xảy ra (tháng 7/2025 cũng không xảy ra). Lũy kế 7 tháng năm 2026 xảy ra 3 vụ vi phạm, giảm 15 vụ so với cùng kỳ, đã xử phạt 415 triệu đồng (7 tháng năm 2025 xảy ra 18 vụ vi phạm, xử phạt 3.278 triệu đồng).
* Đánh giá chung
Trong 7 tháng năm 2026, tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng tiếp tục duy trì xu hướng phục hồi và tăng trưởng tích cực, nhiều lĩnh vực đạt kết quả khá, tạo nền tảng thuận lợi để hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2026.
Nông nghiệp phát triển ổn định, sản xuất được duy trì đúng thời vụ, diện tích gieo trồng cây hàng năm tăng 2,02% so với cùng kỳ; chăn nuôi tăng trưởng khá với sản lượng thịt hơi tăng 11,68%; sản lượng khai thác thủy sản tăng 3,58%.
Khu vực công nghiệp tăng trưởng khá, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 10,48%, trong đó ngành chế biến, chế tạo tăng 17,25%, khai khoáng tăng 19,12%; vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước tăng 11,55% so với cùng kỳ. Hoạt động sản xuất, kinh doanh có nhiều tín hiệu tích cực, số doanh nghiệp thành lập mới tăng 34,52% với tổng vốn đăng ký tăng 38,46%; đồng thời thu hút 38 dự án đầu tư mới.
Khu vực thương mại và dịch vụ duy trì mức tăng khá, phản ánh sức mua và nhu cầu đi lại, du lịch tiếp tục được cải thiện. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng 18,08%; doanh thu du lịch tăng 21,96%, tổng lượt khách phục vụ tăng 18,58%; doanh thu vận tải, kho bãi tăng 23,82%. Hoạt động du lịch hè diễn ra sôi động, thời gian lưu trú của khách có xu hướng cải thiện, tạo tác động lan tỏa đến lưu trú, ăn uống, vận tải và các dịch vụ hỗ trợ.
Các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế và an sinh xã hội tiếp tục được quan tâm; kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông được tổ chức an toàn, tỷ lệ tốt nghiệp đạt cao; số người tham gia bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp tăng. Công tác chăm sóc sức khỏe, thực hiện chính sách đối với người có công và đồng bào dân tộc thiểu số được triển khai kịp thời.
Bên cạnh những kết quả đạt được, kinh tế - xã hội của tỉnh vẫn còn một số hạn chế, khó khăn. Dịch tả lợn châu Phi vẫn diễn biến phức tạp, còn 07 xã chưa qua 21 ngày có dịch. Tình trạng vi phạm lâm luật tiếp tục gia tăng. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý đạt tỷ lệ thấp; dư nợ tín dụng chỉ tăng 2,30% so với cuối năm 2025, thấp hơn nhiều so với huy động vốn tăng 9,04%. Sản lượng oxit nhôm và điện sản xuất tăng còn thấp so với tốc độ chung. Số doanh nghiệp giải thể tăng 74,46%; thu về nhà, đất mới đạt 37,41% dự toán. Tai nạn giao thông giảm về số vụ và số người bị thương nhưng số người chết không giảm. Áp lực lạm phát còn hiện hữu khi CPI bình quân 7 tháng tăng 4,3%, chủ yếu do giá nhà ở, vật liệu xây dựng, thực phẩm, giao thông và giáo dục tăng.
THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG
.JPG)
.JPG)
.JPG)
.JPG)
Kèm file: So lieu KTXH_thang_07_nam_2026.pdf
TIN TỨC CÙNG LOẠI KHÁC:
Trang:
/