Tình hình kinh tế - xã hội tháng 9, quý III và 9 tháng năm 2026 tỉnh Lâm Đồng
Trong bối cảnh tình hình kinh tế, chính trị thế giới tiếp tục có những diễn biến ảnh hưởng đến hoạt động thương mại, đầu tư và thị trường hàng hóa; kinh tế trong nước duy trì xu hướng phục hồi và tăng trưởng. Trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, kinh tế - xã hội trong tháng Chín, quý III và 9 tháng năm 2026 tiếp tục duy trì xu hướng phát triển tích cực. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản cơ bản ổn định; sản xuất công nghiệp tiếp tục tăng trưởng; hoạt động vận tải, thương mại, dịch vụ và du lịch duy trì mức tăng khá; thu ngân sách đạt kết quả tích cực; các lĩnh vực văn hóa - xã hội tiếp tục được quan tâm và triển khai theo kế hoạch. Kết quả thực hiện cụ thể trên các lĩnh vực như sau:
I. Tăng trưởng kinh tế
Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) quý III/2026 ước tăng 9,65% so với cùng kỳ, tính chung 9 tháng năm 2026 ước tăng 8,51% so với cùng kỳ. Trong mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,9%, đóng góp 1,29%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,64%, đóng góp 2,77%; khu vực dịch vụ tăng 9,49%, đóng góp 4,01%.
Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, ngành nông nghiệp vẫn duy trì tăng trưởng tương đối ổn định. Giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp 9 tháng năm 2026 tăng 5,04% so với cùng kỳ, đóng góp 1,12 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành lâm nghiệp tăng 4,48% nhưng chiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0,03 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 4,08%, đóng góp 0,13 điểm phần trăm.
Khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp đạt mức tăng trưởng cao, giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp 9 tháng năm 2026 tăng 10,62% so với cùng kỳ, đóng góp 2,18 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế. Ngành công nghiệp khai khoáng; công nghiệp chế biến, chế tạo là động lực tăng trưởng của toàn nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng lần lượt 17,76% và 19,07%, đóng góp 0,11 và 1,08 điểm phần trăm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,94%, đóng góp 0,96 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,44%, đóng góp 0,03 điểm phần trăm. Ngành xây dựng tăng 10,72%, đóng góp 0,59 điểm phần trăm.
Khu vực dịch vụ, hoạt động thương mại, vận tải, du lịch vẫn giữ mức tăng trưởng cao đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế. Giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ 9 tháng năm 2026 tăng 9,49% so với cùng kỳ. Đóng góp của một số ngành dịch vụ có tỷ trọng lớn vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm trong nền kinh tế như sau: Bán buôn và bán lẻ tăng 11,97% so với cùng kỳ, đóng góp 1,18 điểm phần trăm; ngành vận tải, kho bãi tăng 14,76%, đóng góp 0,44 điểm phần trăm; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 12,52%, đóng góp 0,82 điểm phần trăm; tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,42%, đóng góp 0,26 điểm phần trăm. Cùng với đó, một số ngành dịch vụ công cũng có mức tăng khá cao như: hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 15,67%; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 9,58%.
II. Nông, lâm nghiệp và thủy sản
Tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 9 tháng năm 2026 duy trì ổn định và phát triển. Hoạt động trồng trọt cơ bản thuận lợi, diện tích cây hàng năm và diện tích cây lâu năm tiếp tục được duy trì. Chăn nuôi phát triển ổn định, tổng đàn vật nuôi chủ lực và sản lượng thịt hơi tăng so với cùng kỳ năm trước. Công tác phòng, chống dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi được triển khai thường xuyên; mặc dù dịch tả lợn Châu Phi vẫn phát sinh tại một số địa phương nhưng đã được kiểm soát. Hoạt động thủy sản cơ bản ổn định, nuôi trồng thủy sản được duy trì, sản lượng khai thác thủy sản tăng khá so với cùng kỳ năm trước, sản xuất giống thủy sản, nhất là tôm giống, tiếp tục được duy trì, gắn với kiểm dịch, kiểm soát chất lượng và đáp ứng nhu cầu sản xuất của người nuôi.
1. Trồng trọt
1.1. Cây hàng năm
Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm 9 tháng năm 2026 ước đạt 255.165,7 ha, tăng 2,18% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể: Cây lương thực diện tích ước đạt 143.025,7 ha, tăng 1,92%; sản lượng lương thực ước đạt 930.408,8 tấn, tăng 3,04% (cây lúa diện tích đạt 104.805,7 ha, tăng 1,22%; sản lượng đạt 670.142,1 tấn, tăng 2,46%. Cây bắp diện tích đạt 38.220 ha, tăng 3,89%; sản lượng đạt 260.266,7 tấn, tăng 4,58%). Cây rau diện tích đạt 60.743,7 ha, tăng 2,1%. Cây hoa diện tích đạt 8.121,4 ha, tăng 1,81%. Cây đậu các loại diện tích đạt 10.300 ha, tăng 0,5%. Diện tích cây hàng năm còn lại đạt 32.974,9 ha, tăng 4,16%.
Vụ Hè thu toàn tỉnh đã thực hiện trồng mới, chuyển đổi khoảng 4.157,9 ha cây trồng kém hiệu quả sang trồng các loại cây có hiệu quả cao hơn. Diện tích gieo trồng vụ Hè thu ước đạt 148.753,2 ha, tăng 3,23% so với vụ Hè thu năm trước. Trong đó: cây lúa diện tích đạt 49.400 ha, tăng 2,42%; sản lượng đạt 297.000 tấn, tăng 3,05%; năng suất đạt 60,12 tạ/ha, tăng 0,37 tạ/ha. Cây ngô diện tích đạt 31.663,9 ha, tăng 2,87%; sản lượng đạt 212.000 tấn, tăng 3,31%; năng suất đạt 66,95 tạ/ha, tăng 0,29 tạ/ha. Rau các loại diện tích đạt 34.108,8 ha, tăng 4,09%; sản lượng đạt 1.034.990 tấn, tăng 4,52%; năng suất đạt 303,44 tạ/ha, tăng 1,25 tạ/ha. Hoa các loại diện tích đạt 3.902 ha, tăng 4,48%; sản lượng đạt 1.441.688 nghìn cành/bông, tăng 3,66%; năng suất đạt 369,47 nghìn cành/bông/1ha, giảm 2,93 nghìn cành/bông/ha.

1.2. Cây lâu năm
Sản xuất cây lâu năm trên địa bàn tỉnh 9 tháng năm 2026 duy trì và phát triển tương đối ổn định, cơ cấu cây trồng tiếp tục có sự chuyển dịch theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế. Diện tích một số cây trồng chủ lực như cà phê, sầu riêng, hồ tiêu, dâu tằm có xu hướng mở rộng diện tích; trong khi một số loại cây trồng có hiệu quả kinh tế thấp hơn như cao su, điều, thanh long, chè đang từng bước được điều chỉnh quy mô sản xuất, thanh lý và thay thế những vườn cây già cỗi sang các loại cây trồng có hiệu quả kinh tế cao hơn. Tổng diện tích cây lâu năm hiện có ước đạt 638.205,2 ha, tăng 0,34% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể một số cây chính sau:
- Cây cà phê: Cây cà phê hiện chưa bước vào vụ thu hoạch. Lâm Đồng là vùng sản xuất cà phê lớn nhất cả nước, với quy mô diện tích lớn, sản xuất ổn định và cà phê được xác định là một trong những cây trồng chủ lực, có vai trò chiến lược đối với ngành trồng trọt của tỉnh. Tổng diện tích cây cà phê ước đạt 335.178,5 ha, tăng 1,96% so với cùng kỳ năm trước (tăng chủ yếu ở các xã: Di Linh, Gia Hiệp, Đinh Trang Thượng);
- Cây cao su: Diện tích ước đạt 73.505 ha, giảm 2,48%; sản lượng 9 tháng năm 2026 ước đạt 75.390 tấn, tăng 3,99% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích cao su có xu hướng giảm, chủ yếu do loại bỏ những diện tích cao su già cỗi, năng suất thấp. Tuy nhiên, năng suất khai thác tiếp tục được cải thiện góp phần nâng cao sản lượng các vùng chuyên canh;
- Cây điều: Diện tích ước đạt 45.765,2, giảm 8,74%; sản lượng 9 tháng năm 2026 ước đạt 36.183,9 tấn, giảm 7,48% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích và sản lượng điều có xu hướng giảm trong bối cảnh tỉnh đang đẩy mạnh nông nghiệp công nghệ cao, cấp mã số vùng trồng và ưu tiên phát triển các ngành hàng xuất khẩu có giá trị cao. Một phần diện tích điều đang từng bước được chuyển đổi sang các cây trồng có hiệu quả kinh tế cao hơn như sầu riêng và dâu tằm, phù hợp với định hướng chuyển dịch cơ cấu cây trồng và nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp của tỉnh;
- Cây tiêu: Diện tích ước đạt 38.609,4 ha, tăng 2,55%; sản lượng thu hoạch 9 tháng năm 2026 ước đạt 95.230,6 tấn, tăng 6,81% so với cùng kỳ năm trước. Giá hồ tiêu duy trì ở mức khá cao (khoảng 148.000–151.000 đồng/kg), tạo động lực để người trồng tiêu tăng cường đầu tư, chăm sóc và phục hồi vườn cây. Bên cạnh đó, điều kiện sản xuất tương đối thuận lợi, nguồn nước tưới cơ bản được bảo đảm, tình hình sâu bệnh được kiểm soát, góp phần giúp cây tiêu sinh trưởng, phát triển ổn định và duy trì năng suất;
- Cây sầu riêng: Diện tích ước đạt 47.325,4 ha, tăng 7,01% so với cùng kỳ năm trước (diện tích tăng chủ yếu tại các địa bàn có điều kiện thổ nhưỡng phù hợp, trong đó tập trung tại các xã Đạ Tẻh, Đạ Tẻh 2, Đạ Tẻh 3, Đạ Huoai 3, Cát Tiên 3, Di Linh và Gia Hiệp). Sản lượng 9 tháng năm 2026 ước đạt 337.404 tấn, tăng 15,49%. Sản lượng tăng khá cao chủ yếu do diện tích sầu riêng bước vào thời kỳ cho thu hoạch ngày càng lớn; đồng thời, người dân tăng cường áp dụng các biện pháp kỹ thuật trong chăm sóc, thâm canh, nhất là đối với các vườn trồng thuần, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Dự báo trong thời gian tới cây sầu riêng tăng cường đầu tư thâm canh và mở rộng vùng chuyên canh;
- Cây thanh long: Diện tích ước đạt 24.481,4 ha, giảm 5,12%; sản lượng ước 9 tháng năm 2026 ước đạt 445.855 tấn, giảm 4,45% so với cùng kỳ năm trước. Quy mô diện tích thanh long tiếp tục được điều chỉnh giảm so với giai đoạn phát triển nhanh trước đây. Mặc dù thanh long có lợi thế về quy mô sản xuất và sản lượng, nhưng diện tích lớn cũng tạo áp lực đối với thị trường tiêu thụ khi khả năng tiêu thụ không tăng tương ứng;
- Cây chè: Diện tích chè ước đạt 9.100 ha, giảm 1,96% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích chè giảm chủ yếu tại khu vực Bảo Lộc và các vùng lân cận do một số hộ dân từng bước chuyển đổi các vườn chè già cỗi, sản xuất theo truyền thống, hiệu quả kinh tế thấp sang cây cà phê, sầu riêng, bơ, chanh dây,... Sản lượng thu hoạch 9 tháng năm 2026 ước đạt 90.434 tấn, giảm 2,51% so với cùng kỳ năm trước;
- Cây dâu tằm: Diện tích dâu ước đạt 11.341 ha, tăng 1,11%; sản lượng 9 tháng năm 2026 ước đạt 255.440 tấn, tăng 4,36% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng tăng chủ yếu nhờ việc đẩy mạnh thay thế các giống dâu cũ bằng những giống có năng suất cao, khả năng chống chịu sâu bệnh tốt và phù hợp với điều kiện thổ như VA-201, S7-CB, TPL 03 và TPL 05. Bên cạnh đó giá kén tằm ổn định (khoảng 185.000 đồng - 200.000 đồng/kg), tạo động lực để người dân tăng cường đầu tư chăm sóc, mở rộng diện tích, qua đó góp phần nâng cao năng suất và sản lượng ngành dâu tằm.
1.3. Tình hình thủy lợi phục vụ sản xuất
Toàn tỉnh hiện có 966 công trình thủy lợi, trong đó có 526 hồ chứa với tổng dung tích khoảng 859 triệu m3; các công trình thủy lợi đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt, công nghiệp, du lịch và các ngành kinh tế khác của tỉnh. Tính đến ngày 13/9/2026, tổng diện tích sản xuất nông nghiệp được tưới từ nguồn nước thủy lợi, thủy điện đạt 193.567 ha (đạt 44,5%).
1.4. Tình hình dịch bệnh
Công tác dự báo, phòng chống sâu bệnh hại trên cây trồng được chú trọng thực hiện từ sớm, từ xa thường xuyên trong từng tháng. Trong 9 tháng năm 2026, dịch hại trên các loại cây trồng cơ bản được kiểm soát tốt, hầu hết gây hại ở mức độ nhẹ, cụ thể:
- Cây lúa: Bệnh đạo ôn lá gây hại 1.776 ha; sâu đục thân gây hại 659 ha (giảm 786 ha so cùng kỳ năm trước); ốc bươu vàng gây hại 1.116 ha; rầy nâu gây hại 464 ha;
- Cây sầu riêng: Bệnh xì mủ, thối rễ gây hại 2.164 ha (108 ha nhiễm nặng). Hiện tượng biến dạng dính gai sần vỏ gây hại 3.700 ha trên diện tích trồng sầu riêng giai đoạn trái non, cận thu hoạch tại các xã Đạ Huoai, Đạ Huoai 1, Đạ Huoai 2, Đạ Tẻh, Đạ Tẻh 1, Đạ Tẻh 2, Cát Tiên, Cát Tiên 1, Cát Tiên 2;
- Cây cà phê: Bệnh khô cành, khô quả gây hại 2.968 ha; rệp sáp gây hại 1.543 ha;
- Cây điều: Bọ xít muỗi gây hại 3.931 ha; bệnh thán thư gây hại 3.043 ha;
- Cây thanh long: Bệnh đốm nâu gây hại 1.717 ha; bệnh thán thư cành, quả gây hại 773 ha;
- Cây cà chua: Bệnh xoăn lá virus gây hại 103 ha, bệnh mốc sương gây hại 131 ha.
1.6. Chương trình xây dựng nông thôn mới
Trong 9 tháng năm 2026, tỉnh tiếp tục tập trung triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Phát triển kinh tế hợp tác, kinh tế trang trại tiếp tục được quan tâm, tập trung củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã (HTX) nông nghiệp trên địa bàn. Toàn tỉnh hiện có 08 Liên hiệp HTX nông nghiệp đang hoạt động theo luật Hợp tác xã năm 2023 (với 45 HTX thành viên và 874 HTX nông nghiệp); có 1.290 Tổ hợp tác và 1.410 trang trại đang hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp.
Liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp tiếp tục được tập trung triển khai, góp phần tổ chức lại sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế và tăng cường kết nối giữa sản xuất với thị trường. Đến nay, toàn tỉnh có 428 chuỗi liên kết (với 47.590 hộ tham gia liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm); tổng diện tích liên kết trong trồng trọt đạt khoảng 85.000 ha, sản lượng khoảng 920.000 tấn/năm; tổng đàn vật nuôi đạt khoảng 2.230.000 con, sản lượng đạt khoảng 210.000 tấn/năm.
Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) tiếp tục được triển khai, góp phần phát triển sản phẩm đặc trưng, nâng cao giá trị sản phẩm nông nghiệp và thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm địa phương. Đến nay, toàn tỉnh có 894 sản phẩm OCOP còn thời hạn Giấy chứng nhận (trong đó có 88 sản phẩm 4 sao và 806 sản phẩm 3 sao), với 506 chủ thể tham gia Chương trình.
2. Chăn nuôi
Trong 9 tháng năm 2026, chăn nuôi trên địa bàn tỉnh tiếp tục phát triển ổn định, tổng đàn các loại vật nuôi chủ lực đều tăng so với cùng kỳ năm trước. Sản xuất được duy trì trong điều kiện nhu cầu tiêu dùng trong nước tương đối ổn định, một số sản phẩm có giá bán thuận lợi, tạo điều kiện cho người dân và doanh nghiệp duy trì sản xuất, tái đàn và đầu tư mở rộng quy mô. Xu hướng chăn nuôi trang trại, tập trung, liên kết với doanh nghiệp và ứng dụng quy trình chăn nuôi an toàn sinh học ngày càng được đẩy mạnh. Tuy nhiên, các chi phí đầu vào như giá thức ăn chăn nuôi, con giống, thuốc thú y, các chi phí điện, nước, lao động, vận chuyển vẫn ở mức cao; nguy cơ dịch bệnh trên đàn vật nuôi vẫn còn tiềm ẩn, ảnh hưởng đến chi phí và hiệu quả chăn nuôi.
So với cùng kỳ năm trước, toàn tỉnh có 27,5 nghìn con trâu, tăng 2,15%; có 325 nghìn con bò, tăng 4% (đàn bò sữa có 32,5 nghìn con, tăng 4,23%); có 1.580 nghìn con lợn, tăng 5,4%; có 25 triệu con gia cầm, tăng 9,56% (trong đó gà các loại 16,95 triệu con, chiếm 67,8% trong tổng đàn gia cầm, tăng 9,23%). Sản lượng thịt hơi các loại trong tháng ước đạt 32.660 tấn, tăng 8% so với cùng kỳ năm trước; quý III/2026 đạt 92.186,2 tấn, tăng 7,23%; 9 tháng năm 2026 đạt 277.455,6 tấn, tăng 10,34% so với cùng kỳ năm trước.

* Các hoạt động phòng, chống dịch bệnh
- Đối với bệnh dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Trong quý III/2026, bệnh DTLCP phát sinh 49 hộ, cơ sở tại 27 thôn của 10 xã, phường với tổng số lợn mắc bệnh bị tiêu hủy 8.990 con/401.958 kg. Lũy kế đến ngày 12/9/2026, tổng số lợn mắc bệnh DTLCP chết và bị tiêu hủy 23.067 con/1.102.637 kg. Đến nay còn 05 xã có dịch bệnh chưa qua 21 ngày.
- Các dịch bệnh nguy hiểm khác (như bệnh heo tai xanh, lở mồm long móng, tụ huyết trùng, cúm gia cầm,...) không xảy ra.
- Công tác phòng, chống dịch bệnh: Tổ chức kiểm tra tình hình dịch bệnh DTLCP tại các địa phương có dịch nêu trên. Đồng thời, tăng cường tuyên truyền, hướng dẫn người chăn nuôi thực hiện các biện pháp an toàn sinh học, chủ động phòng, chống dịch bệnh, hạn chế nguy cơ phát sinh và lây lan DTLCP. Đối với các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác, tiếp tục thực hiện giám sát, tiêm phòng và các biện pháp phòng bệnh theo quy định.
3. Sản xuất lâm nghiệp
Trong tháng, tỉnh tiếp tục chỉ đạo các địa phương, đơn vị tập trung triển khai thực hiện công tác quản lý bảo vệ rừng; tăng cường các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp; đồng thời đẩy mạnh công tác khôi phục và phát triển rừng. Diện tích rừng tập trung (trồng mới) trong tháng ước đạt 1.333,3 ha, tăng 4,0% so với cùng kỳ năm trước; quý III/2026 ước đạt 4.233 ha, tăng 3,68%. Lũy kế 9 tháng năm 2026, diện tích rừng trồng mới ước đạt 8.459 ha, tăng 3,68% so với cùng kỳ năm trước; trồng cây xanh ước đạt 10,4 triệu cây, tăng 3,27% so với cùng kỳ năm trước.
- Trong tháng, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 44.578 m3, tăng 1,75% so với cùng kỳ năm trước, quý III/2026 ước đạt 129.736 m3, tăng 1,89%; lũy kế 9 tháng năm 2026 ước đạt 363.03 m3, tăng 3,17%. Sản lượng củi khai thác trong tháng ước đạt 28.053 ster, tăng 1,89%; quý III/2026 ước đạt 83.470 ster, tăng 1,74%; lũy kế 9 tháng năm 2026 ước đạt 263.551 ster, tăng 1,91%.
- Tổng số vụ vị phạm lâm luật trong tháng (từ ngày 10/8 đến ngày 10/9/2026) là 35 vụ, trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 26 vụ, diện tích thiệt hại do phá rừng trái pháp luật 5,1 ha. So với cùng kỳ năm trước, số vụ vi phạm tăng 15 vụ (trong đó phá rừng tăng 17 vụ; diện tích rừng bị thiệt hại tăng 2 ha). Lũy kế 9 tháng năm 2026 (từ ngày 10/12/2025 đến ngày 10/9/2026), tổng số vụ vi phạm là 416 vụ, trong đó: phá rừng 201 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 35,4 ha. So với cùng kỳ năm trước, số vụ vi phạm tăng 92 vụ (phá rừng tăng 81 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 12,5 ha).
4. Thuỷ sản
- Nuôi trồng thủy sản: Thủy sản nuôi nội địa tập trung vào nuôi cá ở các xã Đức Linh, Nam Thành, Trà Tân, Cư Jút, Đắk Wil, Nam Dong, Phúc Thọ Lâm Hà, Tân Hà Lâm Hà và nuôi tôm thâm canh ở các Xã Tân Thành, Liên Hương; lồng bè/bể, bồn nuôi cá có giá trị cao tập trung ở các xã Phan Rí Cửa, Đồng Kho, đặc khu Phú Quý, xã Nam Đà, Nhân Cơ, phường 3 Bảo Lộc, xã Bảo Thuận, xã Lạc Dương và phường Lang Biang. Trong 9 tháng năm 2026, tỉnh đã chỉ đaọ các địa phương tăng cường công tác hỗ trợ kỹ thuật, kiểm tra, giám sát môi trường và chú ý phòng trừ dịch bệnh tại các vùng nuôi thủy sản; tình hình nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh tương đối ổn định.
Diện tích nuôi trồng thủy sản trong tháng ước đạt 401,2 ha, giảm 0,27% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 9 tháng năm 2026 ước đạt 4.228,2 ha, tăng 1,27% (trong đó diện tích nuôi cá đạt 3.750,6 ha, giảm 1,44%; diện tích nuôi tôm đạt 418,9 ha, tăng 4,85%). Sản lượng nuôi trồng thủy sản trong tháng ước đạt 2.483,2 tấn, giảm 0,2% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 505 tấn, tăng 3,48%); quý III/2026 ước đạt 7.380,9 tấn, giảm 0,05%; lũy kế 9 tháng năm 2026 ước đạt 21.270,9 tấn, tăng 0,28% (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 3.745 tấn, tăng 4,16%).
- Khai thác thủy sản: Từ đầu năm đến nay, tình hình thời tiết và ngư trường tương đối thuận lợi, số lượng bão và áp thấp nhiệt đới ít, tạo điều kiện cho hoạt động khai thác thủy sản trên biển. Ngư dân chủ động bám biển, duy trì hoạt động khai thác mặc dù giá nhiên liệu có thời điểm tăng; nguồn lợi cá cơm, cá nục xuất hiện khá dồi dào góp phần nâng cao hiệu quả khai thác. Ngư trường khai thác chủ yếu tập trung tại vùng biển ven bờ và vùng lộng trong tỉnh, khu vực phía nam đặc khu Phú Quý, Côn Sơn, quần đảo Trường Sa, nhà giàn DK-1. Sản lượng khai thác thủy sản trong tháng ước đạt 25.154 tấn, tăng 5,31% so với cùng kỳ năm trước (trong đó khai thác biển ước đạt 25.042 tấn, tăng 5,07%); quý III/2026 ước đạt 75.858,8 tấn, tăng 5,83% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 9 tháng năm 2026 ước đạt 196.116,9 tấn, tăng 4,34% so với cùng kỳ năm trước (trong đó khai thác biển ước đạt 195.392,6 tấn, tăng 4,2%).
- Sản xuất giống thuỷ sản: Hoạt động sản xuất tôm giống trên địa bàn tỉnh tiếp tục được duy trì, gắn với công tác kiểm dịch, kiểm soát chất lượng và phân tích, xét nghiệm mẫu. Trong tháng điều kiện thời tiết tương đối bất lợi do mưa ngâu, cùng với giá tôm thương phẩm ở mức thấp, khiến người nuôi chậm thả giống. Tuy nhiên, hoạt động sản xuất, kinh doanh tôm giống nhìn chung vẫn khá thuận lợi; sau thời gian thu hoạch và cải tạo, phơi hồ, người nuôi bắt đầu thả giống vụ mới, góp phần thúc đẩy nhu cầu tiêu thụ tôm giống. Sản lượng tôm giống sản xuất trong tháng ước đạt 2,4 tỷ post, tăng 11,67% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 9 tháng năm 2026 ước đạt 20,6 tỷ post, tăng 13,26% so với cùng kỳ năm trước.

III. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển
1. Công nghiệp
Tình hình hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh trong tháng, quý III và 9 tháng năm 2026 đạt mức tăng trưởng tích cực đóng vai trò quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Giá trị công nghiệp của tỉnh được tiếp thêm động lực từ các dự án mới đi vào hoạt động. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng toàn ngành. Các nhóm sản phẩm chủ lực đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động thu hút đầu tư của các khu công nghiệp đạt được những kết quả khả quan, tạo nền tảng vững chắc cho kinh tế địa phương phát triển.
1.1. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp
Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng ước tăng 23,92% so với cùng kỳ năm trước; quý III/2026 giảm 2,47% so với quý trước và tăng 17,92% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 17,51%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 24,67%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 13,92%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 12,75%.
Tính chung 9 tháng năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 12,02% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 19,1%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 19,42%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 7,86%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,28%.

1.2. Một số sản phẩm chủ yếu
- Sản phẩm đá xây dựng: Trong tháng, sản lượng sản xuất ước đạt 458.020 m³, tăng 0,56% so với tháng trước và tăng 16,85% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2026, sản lượng sản xuất ước đạt 1.137.513 m³, tăng 16,92% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2026 ước đạt 3.483.084 m³, tăng 18,57% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng 9 tháng năm 2026 tăng khá cao chủ yếu do các doanh nghiệp chủ động nguồn nguyên vật liệu để đáp ứng nhu cầu phục vụ các công trình xây dựng, trong bối cảnh tỉnh đang tập trung tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công và triển khai các hạng mục, công trình xây dựng trên địa bàn.
- Các sản phẩm từ thủy sản được chế biến, bảo quản: Trong tháng sản lượng ước đạt 2.825 tấn, giảm 3,95% so với tháng trước nhưng tăng 33,15% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2026, sản lượng sản xuất ước đạt 8.210 tấn, tăng 34,31% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2026 sản lượng ước đạt 20.337 tấn, tăng 24,46% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng tăng chủ yếu do các doanh nghiệp tập trung sản xuất, chủ động nguồn hàng phục vụ nhu cầu trong những tháng tiếp theo, trong điều kiện tỉnh đang có xu hướng ưu tiên phát triển công nghiệp tại khu vực ven biển phía Nam, góp phần tăng cường kết nối liên vùng giữa Tây Nguyên và Duyên hải Nam Trung Bộ.
- Sản phẩm rau, quả qua chế biến, bảo quản: Trong tháng sản lượng ước đạt 3.831 tấn, giảm 7,71% so với tháng trước nhưng tăng 33,93% so với cùng kỳ. Quý III/2026, sản lượng sản xuất ước đạt 11.215 tấn, tăng 31,61% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2026, sản lượng ước đạt 32.285 tấn, tăng 19,15% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả tăng trưởng chủ yếu do một số doanh nghiệp đã đưa sản phẩm vào hệ thống siêu thị, đồng thời mở rộng quy mô sản xuất để đáp ứng các đơn đặt hàng mới và nhu cầu xuất khẩu sang một số thị trường. Đặc biệt, sản lượng sầu riêng cấp đông tăng mạnh so với cùng kỳ nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ ngày càng cao.
- Đồ uống các loại: Sản lượng trong tháng ước đạt 17.956 nghìn lít, tăng 5,58% so với tháng trước và tăng 8,49% so với cùng kỳ. Quý III/2026, sản lượng sản xuất ước đạt 61.229 nghìn lít, tăng 14,54% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2026, sản lượng ước đạt 185.819 nghìn lít, tăng 16,33% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng tăng chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm đồ uống, đặc biệt là rượu vang, đang có xu hướng gia tăng.
- Sản phẩm giày, dép: Trong tháng sản lượng ước đạt 1.141 nghìn đôi, tăng 3,54% so với tháng trước và tăng hơn 2 lần so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2026, sản lượng sản xuất ước đạt 3.185 nghìn đôi, tăng 97,22% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2026, sản lượng ước đạt 6.963 nghìn đôi, tăng 52,84% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này chủ yếu do các doanh nghiệp nhận thêm đơn hàng ngay từ những tháng đầu năm và duy trì được tốc độ sản xuất cao. Bên cạnh đó, Nhà máy giày Nam Hà Việt Nam mở rộng dây chuyền sản xuất, góp phần nâng công suất và sản lượng của ngành.
- Sản phẩm phân bón: Sản lượng sản xuất trong tháng ước đạt 18.678 tấn, tăng 12,14% so với tháng trước và tăng 36,69% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2026, sản lượng sản xuất ước đạt 47.430 tấn, tăng 11,29% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2026, sản lượng ước đạt 112.863 tấn, tăng 16,35% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng tăng do các doanh nghiệp chủ động nguồn hàng, chuẩn bị cho mùa vụ sản xuất nông nghiệp năm 2026. Trong khi đó, giá nông sản tiếp tục duy trì ở mức cao, thúc đẩy nhu cầu đầu tư phân bón, nhất là đối với các loại cây trồng lâu năm có giá trị kinh tế cao như cà phê, tiêu, sầu riêng.
- Sản phẩm Ôxit nhôm: Trong tháng sản lượng sản xuất ước đạt 156,7 nghìn tấn, tăng 10,51% so với tháng trước và tăng 11,15% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2026, sản lượng sản xuất ước đạt 380,19 nghìn tấn, tăng 9,35% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2026, sản lượng ước đạt 1.137,3 nghìn tấn, tăng 1,71% so với cùng kỳ năm trước.
- Sản phẩm nhôm thỏi: Đây là sản phẩm nhôm thỏi đầu tiên được sản xuất tại Việt Nam. Sự kiện công bố sản phẩm nhôm thỏi đầu tiên vào ngày 26/7/2026 tại Khu công nghiệp Nhân Cơ, tỉnh Lâm Đồng là dấu mốc quan trọng, mở ra hướng phát triển mới cho ngành công nghiệp luyện kim trong nước. Trong tháng sản lượng sản xuất ước đạt 14.540 tấn; quý III/2026 ước đạt 20.551 tấn.
- Sản phẩm điện sản xuất: Sản lượng điện sản xuất trong tháng ước đạt 2.899 triệu kWh, tăng 0,59% so với tháng trước và tăng 18,52% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2026, sản lượng sản xuất ước đạt 9.067 triệu kWh, tăng 16,68% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2026, sản lượng ước đạt 27.102 triệu kWh, tăng 8,75% so với cùng kỳ năm trước.
- Sản phẩm điện thương phẩm: Trong tháng sản lượng điện thương phẩm ước đạt 674 triệu kWh, tăng 19,91% so với tháng trước và tăng 53,57% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2026, sản lượng ước đạt 1.736 triệu kWh, tăng 28,24% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2026, sản lượng ước đạt 4.743 triệu kWh, tăng 14,97% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này diễn ra trong bối cảnh các chương trình khuyến khích sử dụng điện tiết kiệm, hiệu quả được đẩy mạnh, ý thức tiết kiệm điện của người dân và doanh nghiệp ngày càng được nâng cao; đồng thời, nhiều hộ dân, cơ sở kinh doanh và doanh nghiệp đã sử dụng một phần điện năng lượng mặt trời để tự sản xuất, tự tiêu dùng. Tuy nhiên, sản lượng điện thương phẩm vẫn tăng so với quý trước và cùng kỳ, chủ yếu do Nhà máy điện phân nhôm đi vào hoạt động, làm gia tăng đáng kể nhu cầu tiêu thụ điện thương phẩm.
1.3. Chỉ số sử dụng lao động
Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng 2,23% so với tháng trước và tăng 10,98% so cùng kỳ năm trước do Công ty TNHH luyện kim nhôm Trần Hồng Quân đã đi vào hoạt động từ cuối tháng 7/2026, trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 0,81%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,75%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 5,86%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,20%.
Phân theo loại hình doanh nghiệp, chỉ số sử dụng lao động trong tháng của khối doanh nghiệp nhà nước tăng 10,28% so với cùng kỳ năm trước; doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 14,76%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,96%.
Tính chung 9 tháng năm 2026, chỉ số sử dụng lao động tăng 7,1%; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng giảm 2,29%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,53%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,56%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,56%.
1.4. Chỉ số tiêu thụ
Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tháng ước giảm 3,52% so với tháng trước và tăng 25,24% so với cùng kỳ năm trước; 9 tháng năm 2026 chỉ số tiêu thụ tăng 6,16% so với cùng kỳ năm trước.
Các ngành có chỉ số tiêu thụ tăng khá cao trong tháng như: sản xuất thực phẩm tăng 49,23%; sản xuất đồ uống tăng 16,47%; chế biến gỗ tăng 4,46%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 18,99%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 4,82%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 37,58%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 24,62%; sản xuất kim loại tăng 19,22%; sản xuất máy móc thiết bị chưa phân vào đâu tăng 61,64%. Tuy nhiên có 1 số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm như: ngành dệt giảm 19,05%; sản xuất trang phục giảm 30,52%...
Nhìn chung chỉ số tiêu thụ của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tháng tăng so với cùng kỳ năm trước cho thấy tình hình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm công nghiệp đang trong thời gian tăng trưởng tích cực, cũng như các sản phẩm doanh nghiệp sản xuất đã đáp ứng tốt nhu cầu, thị hiếu của khách hàng.
1.5. Chỉ số tồn kho
Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tháng ước giảm 9,3% so với tháng trước và giảm 37,86% so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho giảm so cùng kỳ như: sản xuất chế biến thực phẩm giảm 30,17%; sản xuất chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 39,02%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 27,92%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 72,3%, sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 37,05%, sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 43,94%, sản xuất kim loại giảm 56,11%, sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 29,01%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng như sản xuất đồ uống tăng 115,28%, sản xuất từ giấy và sản phẩm từ giấy tăng 9,6%...
1.6. Tình hình xu hướng sản xuất kinh doanh ngành chế biến, chế tạo
Sản xuất kinh doanh quý III/2026 so với quý trước: Qua khảo sát các doanh nghiệp thuộc ngành chế biến chế tạo cho thấy có 38,46% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh thuận lợi hơn quý trước; 18,18% đánh giá khó khăn hơn và 43,36% số doanh nghiệp cho rằng ổn định, không thay đổi.
Theo hình thức sở hữu: Doanh nghiệp nhà nước 50% có chiều hướng thuận lợi; 50% có chiều hướng không thay đổi. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh 35,29% có chiều hướng thuận lợi; 45,38% có chiều hướng không thay đổi và 19,33% có chiều hướng khó khăn hơn. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) 56,25% doanh nghiệp có chiều hướng thuận lợi; 25% có chiều hướng không thay đổi và 18,75% có chiều hướng khó khăn hơn.
Trong các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp quý III/2026, có 51,79% doanh nghiệp đánh giá do nhu cầu thị trường trong nước thấp; 25% doanh nghiệp cho rằng nhu cầu thị trường quốc tế thấp; 42,86% doanh nghiệp cho rằng tính cạnh tranh trong nước cao; 8,93% doanh nghiệp cho rằng tính cạnh tranh của hàng nhập khẩu cao; 23,21% doanh nghiệp cho rằng thiếu nguyên nhiên vật liệu; 1,79% cho rằng thiếu năng lượng; 32,14% doanh nghiệp cho rằng không tuyển dụng được lao động theo yêu cầu; 21,43% doanh nghiệp cho rằng thiết bị công nghệ lạc hậu; 21,43% doanh nghiệp cho rằng lãi xuất vay vốn cao; 16,07% doanh nghiệp cho rằng do gặp khó khăn về tài chính; 7,14% doanh nghiệp cho rằng không có khả năng tiếp cận nguồn vốn vay; 21,43% doanh nghiệp đánh giá lý do chính sách pháp luật của nhà nước và 7,14% lý do khác.

1.7. Tình hình doanh thu của doanh nghiệp hoạt động ngành công nghiệp
Trong quý III/2026, doanh thu của các doanh nghiệp ngành công nghiệp tỉnh Lâm Đồng tăng 3,78% so với quý trước và tăng 25,01% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 9 tháng năm 2026 tăng 12,63% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể tình hình các nhóm ngành như sau:
Ngành B (Khai khoáng): Doanh thu tăng 8,09% so với quý trước và 20,09% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 9 tháng năm 2026 tăng 17,87% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu ngành khai khoáng có sự tăng trưởng cao so với cùng kỳ là nhờ các đơn vị khai thác tối ưu hóa công suất vận hành, đáp ứng kịp thời nhu cầu nguyên vật liệu từ các dự án hạ tầng giao thông trọng điểm trên địa bàn.
Ngành C (Công nghiệp chế biến, chế tạo): Doanh thu tăng 31,79% so với quý trước và 39,13% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 9 tháng tăng 20,6% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả trên nhờ sự tăng trưởng của nhóm chế biến nông sản, thực phẩm và nhu cầu tiêu thụ vật liệu xây dựng phục vụ các dự án giao thông trọng điểm. Các chính sách hỗ trợ kịp thời đã giúp doanh nghiệp khơi thông nguồn vốn và ổn định chuỗi cung ứng, khẳng định vai trò then chốt trong việc tạo ra giá trị gia tăng cho ngành công nghiệp tỉnh.
Ngành D (Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí): Doanh thu giảm 10,15% so với quý trước và tăng 16,71% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 9 tháng năm 2026 tăng 8,27% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng nhằm đáp ứng nhu cầu điện năng phục vụ sản xuất và tiêu dùng. Ngành tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh năng lượng và hỗ trợ trực tiếp cho các ngành sản xuất khác trên địa bàn.
Ngành E (Cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải): Doanh thu tăng 7,36% so với quý trước và 14,14% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 9 tháng năm 2026 tăng 9,91% so với cùng kỳ năm trước. Sự gia tăng này đảm bảo cung ứng nước sạch phục vụ nhu cầu sinh hoạt và sản xuất ngày càng mở rộng. Các đơn vị ngành nước và môi trường đã chủ động bảo trì hạ tầng, tối ưu hóa công nghệ xử lý nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ và kiểm soát tốt các chỉ tiêu vệ sinh môi trường.
1.8. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp (KCN)
Trong 9 tháng năm 2026, đã thu hút được 18 dự án đầu tư (trong đó có 04 dự án nước ngoài và 14 dự án trong nước) với tổng vốn đầu tư đăng ký là 814,33 tỷ và 24,84 triệu USD, diện tích đất thuê lại 34,14 ha.
Lũy kế đến nay, các KCN trên địa bàn tỉnh có 249 dự án còn hiệu lực, gồm 57 dự án FDI và 192 dự án trong nước; tổng vốn đăng ký đạt hơn 45.932 tỷ đồng và 544,962 triệu USD, diện tích đất đăng ký 785,50 ha, tỷ lệ lấp đầy đạt 57,21%.
Hiện nay trong các KCN có 176 doanh nghiệp đi vào hoạt động. Doanh thu hoạt động sản xuất - kinh doanh ước thực hiện 9 tháng năm 2026 đạt 23.662,24 tỷ đồng; kim ngạch xuất khẩu đạt 498,89 triệu USD; nộp ngân sách đạt 1.425,10 tỷ đồng.
- KCN Lộc Sơn thu hút được 58 dự án đầu tư (10 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 48 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất đã cho thuê lại 94,8ha/132,60 ha đất công nghiệp cho thuê, tỷ lệ lấp đầy đạt 71,74%.
- KCN Phú Hội thu hút được 34 dự án đầu tư (11 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 23 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê lại 56 ha/74,6 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 75,02%.
- KCN Phan Thiết giai đoạn 1 thu hút được 39 dự án đầu tư (10 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 29 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê 51,4 ha/51,4 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 100%.
- KCN Phan Thiết giai đoạn 2 thu hút được 12 dự án đầu tư (02 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 10 dự án đầu tư có vốn trong nước), với diện tích đất cho thuê 23,01 ha/28,1 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 81,92%.
- KCN Hàm Kiệm I thu hút được 23 dự án đầu tư (08 dự án đầu tư có vốn 6 nước ngoài và 15 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê 60,7 ha/90,8 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 66,82%.
- KCN Hàm Kiệm II thu hút được 18 dự án đầu tư (07 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 11 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê 91,90 ha/276,90 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 33,18%.
- KCN Sông Bình thu hút được 03 dự án đầu tư có vốn trong nước với diện tích đất cho thuê 58,40 ha/202,30 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 28,84%.
- KCN Tân Đức thu hút được 07 dự án đầu tư (02 trong nước và 05 nước ngoài) với diện tích đất cho thuê 31,10 ha/210,80 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 14,75%.
- KCN Tâm Thắng đã thu hút được 49 dự án đầu tư (gồm 05 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 44 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích thuê lại 130 ha/134 ha, tỷ lệ lấp đầy 97,11%.
- KCN Nhân Cơ thu hút được 01 dự án với quy mô 129,40 ha, tổng vốn đầu tư đăng ký 18.423 tỷ đồng, tỷ lệ lắp đầy KCN 87,44%.
- Các KCN đang xây dựng, chưa thu hút dự án đầu tư: KCN Tuy Phong; KCN Sơn Mỹ 1; KCN Sơn Mỹ 2; KCN Phú Bình; KCN Nhân Cơ 2.
2. Xây dựng
Trong quý III/2026, hoạt động xây dựng trên địa bàn tỉnh tiếp tục được thúc đẩy trong bối cảnh các chính sách hỗ trợ đầu tư được triển khai, tiến độ giải ngân vốn được đẩy nhanh và các khó khăn, vướng mắc của dự án từng bước được tháo gỡ. Tỉnh tập trung triển khai các công trình, dự án hạ tầng trọng điểm, năng lượng, công nghiệp và hạ tầng thương mại; trong đó, đã tháo gỡ khó khăn cho 179/365 dự án, tạo điều kiện để các dự án tiếp tục hoàn thiện thủ tục và tổ chức thi công trong thời gian tới.
Giá trị sản xuất theo giá hiện hành ngành xây dựng chia theo loại hình quý III/2026 ước đạt 19.458,1 tỷ đồng, tăng 18,24% so cùng kỳ năm trước, với mức tăng cao là do trong quý có các dự án nhà máy xỉ titan Sông Bình, nhà máy điện phân nhôm Đắk Nông, các dự án Trường nội trú liên cấp, nâng cấp sân bay và các tuyến đường cao tốc, giao thông trong tỉnh. Trong đó, khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 71,1 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 0,37%), tăng 51,36% so với cùng kỳ năm trước; doanh nghiệp ngoài Nhà nước ước đạt 10.689 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 54,93%), tăng 1,58% so với cùng kỳ năm trước chủ yếu tăng ở các công trình giao thông trên địa bàn tỉnh; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 164,4 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 0,84%), giảm 21,31% so với cùng kỳ năm trước; loại hình kinh tế khác ước đạt 8.533,6 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 43,86%), tăng 15,18% so với cùng kỳ năm trước. Ước 9 tháng năm 2026, giá trị sản xuất xây dựng theo giá hiện hành ước đạt 48.640,6 tỷ đồng, tăng 16,75% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 193 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 0,4%), tăng 72,7% so với cùng kỳ năm trước; doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 26.818 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 55,14%), tăng 18,92% so với cùng kỳ năm trước; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 516,9 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 1,06%), tăng 1,44% so với cùng kỳ năm trước; loại hình kinh tế khác ước đạt 21.112,7 tỷ đồng, chủ yếu khu vực hộ dân cư (chiếm tỷ trọng 43,4%), tăng 14,19% so với cùng kỳ năm trước.
Chia theo loại công trình, giá trị sản xuất theo giá hiện hành ước quý III/2026 công trình nhà ở đạt 7.333,5 tỷ đồng, tăng 8,27% so với cùng kỳ năm trước; công trình nhà không để ở đạt 4.031,6 tỷ đồng, tăng 17,27% so với cùng kỳ năm trước; công trình kỹ thuật dân dụng 5.486,2 tỷ đồng, tăng 21,41% so với cùng kỳ năm trước chủ yếu các dự án cao tốc Tân Phú - Bảo Lộc, Cao tốc Bảo Lộc - Liên Khương, Cao tốc Nha Trang - Đà Lạt; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 2.606,8 tỷ đồng, tăng 50,93% so với cùng kỳ năm trước do trong quý có dự án đường dây điện của tập đoàn EVN thi công qua địa bàn tỉnh, giải phóng chuẩn bị mặt bằng các tuyến cao tốc, Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam. Ước 9 tháng năm 2026, giá trị sản xuất xây dựng theo giá hiện hành loại công trình nhà ở đạt 19.004,1 tỷ đồng, tăng 10,55% so cùng kỳ năm trước; công trình nhà không để ở đạt 9.776,8 tỷ đồng chủ yếu sửa chữa, nâng cấp Cảng hàng không quốc tế Liên Khương, tăng 11,42% so với cùng kỳ năm trước; công trình kỹ thuật dân dụng 13.038,8 tỷ đồng, tăng 18,11%; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 6.821 tỷ đồng, tăng 46,42% so với cùng kỳ năm trước.
Kết quả khảo sát cho thấy hoạt động SXKD của doanh nghiệp xây dựng quý III/2026 còn khó khăn, với 21,4% doanh nghiệp đánh giá thuận lợi hơn, 46,2% ổn định và 32,4% khó khăn hơn quý trước; chỉ số cân bằng đạt -11%. Sang quý IV/2026, triển vọng có cải thiện nhẹ, chỉ số cân bằng dự báo -10,4%, trong đó 21,4% doanh nghiệp kỳ vọng hoạt động thuận lợi hơn. Chi phí đầu vào tiếp tục gây áp lực, với 41,6% doanh nghiệp ghi nhận chi phí sản xuất tăng, riêng chi phí nguyên vật liệu tăng ở 46,2% doanh nghiệp. Khả năng tiếp cận vốn còn khó khăn khi 30,6% doanh nghiệp đánh giá vay vốn khó hơn. Tuy nhiên, 27,7% doanh nghiệp dự báo số hợp đồng xây dựng mới tăng trong quý IV/2026. Doanh nghiệp chủ yếu kiến nghị 50,3% hỗ trợ nguyên vật liệu; 35,8% công khai, minh bạch đấu thầu và 33,5% cắt giảm thủ tục hành chính.
3. Đầu tư phát triển
Thu hút nguồn lực vào các trụ cột chiến lược như du lịch chất lượng cao, nông nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế biến, khai khoáng và năng lượng tái tạo được sự chỉ đạo quyết liệt từ UBND tỉnh. Nhờ quyết liệt tháo gỡ điểm nghẽn và cải cách thủ tục hành chính, tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong 9 tháng năm 2026 ước đạt 84.104,76 tỷ đồng, tăng 12,09% so với cùng kỳ năm trước.
Trong 9 tháng năm 2026, công tác triển khai hạ tầng trọng điểm và phân bổ vốn khởi công mới trên địa bàn tỉnh ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, tiến độ chung vẫn bị chững lại do các điểm nghẽn về giải phóng mặt bằng, trùng lấn quy hoạch bô-xít và năng lực hạn chế của một số chủ đầu tư, nhà thầu. Trước tình hình đó, tỉnh đã quyết liệt triển khai các giải pháp tháo gỡ ngay từ đầu năm nhằm khơi thông nguồn lực và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công.
3.1. Tình hình thực hiện vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý
Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước trong tháng đạt 1.824,1 tỷ đồng, tăng 26,13% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 1.648,9 tỷ đồng, chiếm 90,39% trong tổng số vốn nhà nước thực hiện trên địa bàn, tăng 29,03% so với cùng kỳ năm trước (vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 640 tỷ đồng, tăng 28,26% so với cùng kỳ năm trước; vốn trung ương ước đạt 391,7 tỷ đồng, tăng 24,97%; vốn nước ngoài 25,9 tỷ đồng, giảm 4,32%; vốn xổ số kiến thiết 579,5 tỷ đồng, tăng 33,41%; vốn khác 11,9 tỷ đồng, tăng 2,86 lần); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 175,2 tỷ đồng, chiếm 9,61% trong tổng số vốn nhà nước thực hiện trên địa bàn, tăng 4,16% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung 9 tháng năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 9.624,4 tỷ đồng, đạt 47,85% so với kế hoạch năm, tăng 18,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 8.611,2 tỷ đồng, tăng 17,61% so với cùng kỳ năm trước (vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 3.770,3 tỷ đồng, tăng 32,15% so với cùng kỳ năm trước; vốn trung ương ước đạt 1.459,2 tỷ đồng, giảm 22,83%; vốn nước ngoài 133,1 tỷ đồng, giảm 17,88%; vốn xổ số kiến thiết 3.193,3 tỷ đồng, tăng 33,63%; vốn khác 55,3 tỷ đồng, tăng gấp 2,1 lần); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 1.013,2 tỷ đồng, tăng 24,54% so với cùng kỳ năm trước.

3.2. Tình hình thực hiện vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn
Trong Quý III/2026, tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trên địa bàn tỉnh ước đạt 34.192,3 tỷ đồng, tăng 23,35% so với quý trước và tăng 14,66% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động đầu tư có mức tăng trưởng cao sau giai đoạn hoàn thiện thủ tục đầu năm. Tốc độ tăng trưởng tích cực trong Quý III/2026 chủ yếu nhờ thời tiết mùa khô thuận lợi cho thi công xây dựng, cùng với sự quyết liệt của tỉnh trong đôn đốc, tháo gỡ khó khăn về mặt bằng. Động lực phát triển tập trung lớn ở các dự án hạ tầng giao thông, đô thị trọng điểm và hạ tầng các khu công nghiệp trên địa bàn. Trong đó, vốn nhà nước ước đạt 8.285,4 tỷ đồng, tăng 18,09% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 24,23% trong tổng nguồn vốn; vốn Trung ương quản lý đạt 2.307,2 tỷ đồng, giảm 0,03%, vốn địa phương quản lý đạt 5.978,3 tỷ đồng. Vốn ngoài nhà nước ước đạt 24.810,4 tỷ đồng, tăng 13,8% và chiếm 72,56% tổng vốn (vốn của các tổ chức, doanh nghiệp ngoài nhà nước đạt 13.904,4 tỷ đồng, tăng 14,76%, vốn đầu tư của dân cư đạt 10.906 tỷ đồng, tăng 12,59%). Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ước đạt 1.096,5 tỷ đồng, tăng 9,44% so với cùng kỳ và chiếm 3,21% tổng vốn đầu tư.
Lũy kế 9 tháng năm 2026, tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trên địa bàn tỉnh ước đạt 84.104,8 tỷ đồng, tăng 12,09% so với cùng kỳ năm trước. Vốn nhà nước ước đạt 16.986,6 tỷ đồng, tăng 7,75%, chiếm 20,2% tổng nguồn vốn toàn xã hội (vốn Trung ương quản lý đạt 5.462,7 tỷ đồng, giảm 2,61%, vốn địa phương quản lý đạt 11.523,9 tỷ đồng, tăng 13,48%). Vốn ngoài nhà nước tiếp tục giữ vai trò là động lực tăng trưởng chính, có quy mô lớn nhất trong cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội, ước đạt 64.276,1 tỷ đồng, tăng 13,58% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 76,42% tổng nguồn vốn (vốn của tổ chức, doanh nghiệp đạt 33.863,3 tỷ đồng, tăng 9,18%, vốn của dân cư đạt 30.412,9 tỷ đồng, tăng 18,92%). Nguồn vốn ngoài nhà nước có sự phát triển mạnh, thúc đẩy dịch chuyển cơ cấu kinh tế sâu vào các ngành công nghiệp chế biến, năng lượng tái tạo, nông nghiệp công nghệ cao và du lịch.
Dòng vốn thực hiện toàn xã hội được duy trì ở mức cao nhờ tiến độ của các dự án: Thung lũng Đại dương, Điện phân nhôm Đắk Nông, Nam sông Đa Nhim, các KCN, cùng nhóm nhà máy chế biến Mebi Farm, Hli Ecohub Nam Hà và Zircon Sông Bình. Song song đó, nguồn vốn trong nhân dân tăng trưởng ổn định, tập trung tái đầu tư vào nông nghiệp giá trị cao và dịch vụ du lịch quy mô nhỏ. Đối với vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), 9 tháng năm 2026 ước đạt 2.842 tỷ đồng, tăng 6,15% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 3,38% tổng nguồn vốn. Mặc dù chiếm tỷ trọng không cao trong cơ cấu vốn toàn xã hội, dòng vốn FDI trên địa bàn tỉnh vẫn duy trì bảo đảm chất lượng và đúng định hướng dòng vốn xanh, có sự chọn lọc chiến lược, tập trung vào nông nghiệp công nghệ sinh học, chế biến sâu nông sản, logistics và du lịch sinh thái. Tiến độ thực hiện các dự án chuyển biến tích cực nhờ địa phương chủ động tháo gỡ thủ tục hành chính.
Trong tháng (từ ngày 15/8-15/9/2026), toàn tỉnh có 222 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, giảm 37,29% so với cùng kỳ năm trước; 53 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 3,64%; 70 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, giảm 7,89%; 265 doanh nghiệp giải thể, tăng 1,85 lần (tương ứng tăng 172 doanh nghiệp so với cùng kỳ năm trước). Số doanh nghiệp giải thể tăng mạnh chủ yếu do từ đầu tháng 7/2026, Cơ quan Đăng ký kinh doanh phối hợp với Cơ quan Thuế triển khai “Chiến dịch làm sạch mã số thuế - Tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh”, trong đó hướng dẫn, đôn đốc các doanh nghiệp đã ngừng hoạt động nhiều năm nhưng chưa thực hiện thủ tục giải thể theo quy định hoàn tất hồ sơ giải thể. Do đó, số doanh nghiệp giải thể trong kỳ tăng cao, một phần phản ánh quá trình xử lý, chuẩn hóa dữ liệu doanh nghiệp và không hoàn toàn phản ánh tình trạng doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường trong kỳ.
Tính chung 9 tháng năm 2026, toàn tỉnh có 3.231 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 8,28%; 719 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 4,96%; 1.474 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, giảm 1,86%; 1.446 doanh nghiệp giải thể, tăng 1,65 lần (tương ứng tăng 900 doanh nghiệp so với cùng kỳ năm trước). Tổng vốn đăng ký của doanh nghiệp đạt 16.939,5 tỷ đồng, tăng 10,2%. Nhìn chung, số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động tiếp tục tăng, cho thấy hoạt động gia nhập và tái gia nhập thị trường vẫn được duy trì.
Về thu hút đầu tư (tính từ đầu năm đến ngày 17/9/2026) toàn tỉnh có 45 dự án đầu tư được cấp mới, với tổng vốn đăng ký 174.576,72 tỷ đồng; 48 dự án được điều chỉnh chủ trương đầu tư hoặc điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Lũy kế đến ngày 17/9/2026, toàn tỉnh có 2.964 dự án đầu tư còn hiệu lực, với tổng vốn đầu tư 947.016 tỷ đồng, trong đó có 246 dự án FDI còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký 224.968 tỷ đồng. Kết quả trên cho thấy hoạt động thu hút đầu tư tiếp tục được quan tâm, tạo thêm nguồn lực cho phát triển sản xuất, kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tỉnh.
* Tình hình thực hiện đầu tư xây dựng các công trình trọng điểm
Trong 9 tháng năm 2026, tiến độ thực hiện các công trình hạ tầng trọng điểm, dự án đô thị, thương mại và khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp tục được tập trung tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, nhất là về thủ tục đầu tư và giải phóng mặt bằng. Hoạt động xây dựng, lắp đặt diễn ra khá sôi động; khối lượng thực hiện tại nhiều dự án chuyển tiếp cơ bản bám sát tiến độ và kế hoạch đề ra. Bên cạnh những kết quả tích cực, một số dự án vẫn còn chậm tiến độ do vướng mắc kéo dài trong công tác giải phóng mặt bằng và xu hướng tăng giá nguyên, nhiên vật liệu xây dựng đầu vào. Các chủ đầu tư đang tập trung đẩy nhanh thi công, chủ động tối ưu hóa quy trình và tranh thủ điều kiện thời tiết thuận lợi để tăng khối lượng thực hiện.
Dự án cao tốc Bắc - Nam phía Tây đoạn Gia Nghĩa - Chơn Thành: Dự án có tổng chiều dài 124,13 km, đi qua hai tỉnh Lâm Đồng và Đồng Nai, được chia thành 5 dự án thành phần, quy mô 4 làn xe, tốc độ thiết kế 100 - 120 km/h. Trên địa bàn tỉnh Đắk Nông (cũ) triển khai 2 hợp phần, gồm: Dự án thành phần 2 - Đầu tư xây dựng đường gom và cầu vượt, sơ bộ mức đầu tư khoảng 338 tỷ đồng từ ngân sách địa phương; Dự án thành phần 4 - Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, tổng mức đầu tư khoảng 662 tỷ đồng. Tính đến ngày 19/7/2026, dự án đã có 772,6 ha/916,27 ha mặt bằng sạch, đạt 84,3%.
Dự án xây dựng tuyến đường bộ cao tốc Tân Phú - Bảo Lộc: Dự án có tổng chiều dài khoảng 66 km, trong đó đoạn qua Lâm Đồng dài 55 km, tổng mức đầu tư hơn 18.000 tỷ đồng, thực hiện theo hình thức PPP. Kế hoạch vốn năm 2026 được phân bổ 1.320 tỷ đồng để triển khai tuyến cao tốc chính và 02 tiểu dự án tái định cư, bồi thường tại xã Lộc Thắng và xã Đạ Oai. Đến ngày 08/8/2026, đã phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ đối với 909 hộ, tổng kinh phí hơn 1.095 tỷ đồng, diện tích 240,97 ha, đạt 95,7% số hộ cần phê duyệt và gần 60% diện tích cần thu hồi.
Dự án đầu tư xây dựng đường bộ cao tốc Bảo Lộc - Liên Khương theo phương thức đối tác công tư (giai đoạn 1): Dự án có chiều dài 73,6 km, tổng mức đầu tư 17.718 tỷ đồng theo hình thức PPP. Năm 2026, dự án được phân bổ 3.110 tỷ đồng cho tuyến chính và 02 khu tái định cư tại xã Gung Ré, Hòa Ninh. Đến ngày 08/8/2026, toàn dự án đã phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho 2.451 hộ, với tổng kinh phí hơn 3.164,978 tỷ đồng, diện tích 545,361 ha, đạt 97% số hộ và 87,8% diện tích cần phê duyệt.
Dự án cải thiện môi trường đô thị các thành phố loại 2 - Hợp phần tỉnh Đắk Nông cũ: Dự án có tổng mức đầu tư 1.499 tỷ đồng, kế hoạch vốn năm 2026 được phân bổ 62,5 tỷ đồng, tập trung triển khai 02 hợp phần gồm cải thiện hạ tầng đô thị thích ứng biến đổi khí hậu và hỗ trợ tăng cường năng lực thể chế. Các gói thầu xây lắp mạng lưới đường ống thu gom nước thải sinh hoạt và cải tạo hệ thống thoát nước trục chính đã được triển khai đồng loạt. Khối lượng hoàn thành lũy kế của các hợp phần chính ước đạt trên 75% giá trị hợp đồng.
Dự án Cảng hàng không Phan Thiết (hạng mục hàng không dân dụng) và Khu đô thị sân bay Phan Thiết: Hạng mục hàng không dân dụng có công suất thiết kế 2 triệu hành khách/năm, tổng mức đầu tư khoảng 3.800 tỷ đồng. Đến nay, đơn vị đã hoàn thiện và nộp hồ sơ thẩm duyệt phòng cháy, chữa cháy; đồng thời tập trung nhân lực, máy móc triển khai thi công theo kế hoạch. Các hạng mục đang thực hiện gồm phát quang, san nền khu vực nhà ga, đài kiểm soát và các công trình phụ trợ; phát quang, bóc hữu cơ và đắp nền khu vực đường lăn, sân đỗ máy bay.
Dự án đường sắt tốc độ cao qua địa bàn tỉnh: Đoạn tuyến qua địa bàn tỉnh dài 156,5 km, quy mô đường đôi, khổ đường 1.435 mm, tốc độ thiết kế 350 km/h, sử dụng vốn ngân sách nhà nước chủ đạo. Quy hoạch gồm 02 nhà ga (Phan Rí và Phan Thiết), 04 trạm bảo dưỡng, diện tích giải phóng mặt bằng khoảng 1.046,4 ha. Hiện nay, 7 khu tái định cư phục vụ dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam qua địa bàn Lâm Đồng, chủ yếu ở khu vực phía Đông Nam tỉnh thuộc các xã, phường gồm Bình Thuận, Hàm Kiệm, Tân Lập, Hàm Liêm, Hồng Sơn, Lương Sơn và Bắc Bình, đã giao 100% mặt bằng.
Dự án đường trục ven biển ĐT.719B đoạn Phan Thiết - Kê Gà: Công tác giải phóng mặt bằng đến nay đạt khoảng 84,8%; khối lượng thi công đạt khoảng 70% giá trị hợp đồng. Trong đó, đoạn từ Quốc lộ 1 đến cầu Suối Nhum dài khoảng 17,8 km đã hoàn thành và đưa vào khai thác. Hiện còn khoảng 3,88 km qua khu vực khai thác titan của Công ty TNHH Thương mại Tân Quang Cường và một hộ dân tại nút giao ĐT.719B - ĐT.719 chưa bàn giao mặt bằng. Tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công mới đạt 1.906/28.436 triệu đồng, tương đương 6,7% kế hoạch năm.
Dự án đầu tư nâng cấp 04 tuyến Quốc lộ 28B: Dự án có tổng mức đầu tư 1.435 tỷ đồng, tổng chiều dài 68 km, trong đó đoạn qua Bình Thuận cũ dài 51 km và Lâm Đồng cũ dài 17 km. Các đơn vị thi công đã cơ bản hoàn thành phần nền đường và hệ thống thoát nước tại các đoạn bằng phẳng; chỉ còn một số vị trí cục bộ liên quan đến di dời hạ tầng kỹ thuật như đường dây điện, viễn thông. Hiện đang khảo sát 11 vị trí dự kiến đầu tư xây dựng trạm dừng, nghỉ trên Quốc lộ 28B.
Dự án hồ chứa nước KaZam: Dự án có tổng mức đầu tư 495,5 tỷ đồng. Đến nay, công tác giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ tái định cư vùng lòng hồ và đầu mối đã hoàn thành 91% diện tích. Khối lượng thi công xây lắp trên thực địa đạt khoảng 38% tổng giá trị hợp đồng. Trong đó, hạng mục đập đất đầu mối đã hoàn thành đắp đê quai phân lũ; công tác đào móng và xử lý chống thấm nền đập đạt 75% khối lượng. Riêng hợp phần cống lấy nước dưới đập và tràn xả lũ đang được tập trung đổ bê tông thân công trình nhằm bảo đảm tiến độ và an toàn trước mùa lũ.
Dự án hồ chứa nước Ka Pét: Dự án có tổng mức đầu tư 874,09 tỷ đồng. Tính đến tháng 9/2026, công tác kiểm đếm phục vụ bồi thường, hỗ trợ tái định cư đã đạt 72% khối lượng công việc.
Dự án hệ thống kênh mương hồ Đạ Lây, Đạ Sị: Đối với hệ thống kênh mương hồ Đạ Lây, hồ chứa có dung tích hơn 13 triệu m³, khi hoàn thành sẽ bảo đảm nước tưới ổn định cho hơn 1.400 ha đất nông nghiệp. Đến nay, công tác giải phóng mặt bằng dọc hành lang tuyến đã hoàn thành 100%; khối lượng xây lắp ước đạt 62% giá trị xây dựng. Đối với hệ thống kênh mương hồ Đạ Sị, hệ thống phục vụ hồ chứa có dung tích thiết kế 23,5 triệu m³. Công tác giải phóng mặt bằng dọc hành lang các tuyến kênh đã thực hiện bồi thường, bàn giao 7,4 km, đạt 79,5% mặt bằng sạch; sản lượng thi công thực tế ước đạt 51% giá trị dự án.
Dự án hồ Đắk Gang: Dự án có tổng vốn đầu tư 1.082 tỷ đồng, dung tích thiết kế khoảng 15 triệu m³, phục vụ cấp nước tưới cho 2.000 - 2.500 ha cây trồng. Tính đến tháng 9/2026, công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng vùng lòng hồ và cụm đầu mối đã bàn giao 142 ha/168 ha, đạt 84,5%. Khối lượng xây lắp hoàn thành lũy kế ước đạt 28% giá trị hợp đồng.
Nhà máy điện phân nhôm Đắk Nông: Dự án có tổng mức đầu tư hơn 28.000 tỷ đồng, công suất thiết kế 450.000 tấn nhôm nguyên chất/năm, chia thành 3 giai đoạn, mỗi giai đoạn 150.000 tấn/năm, sử dụng trực tiếp nguồn alumin từ Nhà máy Alumin Nhân Cơ.
Dự án Khu công nghiệp Sơn Mỹ 1, Sơn Mỹ 2: Đối với Khu công nghiệp Sơn Mỹ 1, dự án có quy mô 1.070 ha, tập trung thu hút các dự án thứ cấp thuộc các ngành năng lượng, vật liệu xây dựng, điện tử, chế tạo máy. Đến nay, công tác giải phóng mặt bằng đạt trên 85% diện tích; khối lượng thi công xây lắp ngoài hiện trường đối với các trục giao thông chính và hạ tầng kỹ thuật đạt khoảng 25% khối lượng phân kỳ 1. Đối với Khu công nghiệp Sơn Mỹ 2, dự án có quy mô 1.225 ha, phát triển theo mô hình khu công nghiệp - đô thị - dịch vụ hiện đại. Tính đến tháng 9/2026, công tác chuẩn bị đầu tư cơ bản hoàn thiện; hoạt động tại hiện trường chủ yếu tập trung vào chuẩn bị mặt bằng kỹ thuật, khảo sát địa chất chi tiết cho các phân khu chức năng và xây dựng hàng rào ranh giới bảo vệ diện tích đất công đã được bàn giao đợt đầu.
Dự án Khu đô thị mới Nam sông Đa Nhim: Dự án có quy mô sử dụng đất 153,65 ha, tổng vốn đầu tư dự kiến hơn 11.800 tỷ đồng, vị trí gần Cảng hàng không Liên Khương và trục kết nối cao tốc Bảo Lộc - Liên Khương. Trong 9 tháng năm 2026, dự án đang tập trung thực hiện công tác giải phóng mặt bằng, chưa phát sinh khối lượng xây lắp thực địa. Tiến độ dự án chịu ảnh hưởng bởi quy trình xác định giá đất cụ thể để tính tiền bồi thường còn nhiều phức tạp, đồng thời nhà đầu tư thận trọng trong cân đối dòng vốn thực hiện theo các quy định mới về đất đai.
Dự án Khu công nghiệp Tân Đức: Dự án có tổng vốn đầu tư 1.200 tỷ đồng, thực hiện trên tổng diện tích quy hoạch 300 ha. Đến nay, công tác giải phóng mặt bằng đã cơ bản hoàn thành, đạt trên 97%.
Nhìn chung, trong 9 tháng năm 2026, hoạt động đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh có chuyển biến tích cực, đặc biệt tại các dự án giao thông, thủy lợi, đô thị và khu công nghiệp quy mô lớn. Nhiều dự án đã đạt tỷ lệ giải phóng mặt bằng và khối lượng xây lắp khá cao, tạo điều kiện chuyển mạnh từ giai đoạn hoàn thiện thủ tục sang thi công thực địa. Tuy nhiên, tiến độ giữa các dự án chưa đồng đều; một số công trình vẫn chịu tác động bởi công tác giải phóng mặt bằng, xác định giá đất, di dời hạ tầng kỹ thuật và biến động giá nguyên, nhiên vật liệu. Đây tiếp tục là những yếu tố cần được tập trung tháo gỡ để bảo đảm tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư trong những tháng cuối năm 2026.
IV. Thương mại; giá cả; du lịch; giao thông vận tải
Tình hình thương mại của tỉnh trong 9 tháng năm 2026 hoạt động tương đối ổn định. Sức mua của người dân tăng so với cùng kỳ năm trước; hàng hóa dồi dào luôn đáp ứng nhu cầu người dân, giá bán trên thị trường tương đối ổn định, không xảy ra biến động khan hiếm thị trường làm tăng giá đột biến. Hoạt động du lịch diễn ra khá nhộn nhịp, nhiều hoạt động văn hóa, thể thao và nhiều lễ hội khác đã thu hút nhiều du khách. Dịch vụ lữ hành hoạt động ổn định và tiếp tục tăng cường phục vụ cho người dân và du khách. Các nhà hàng, cơ sở kinh doanh ăn uống tăng cường phục vụ cho người dân địa phương và du khách. Hoạt động kinh doanh vận tải đường bộ ổn định đáp ứng nhu cầu vận chuyển hành khách và hàng hóa trên thị trường kịp thời; vận tải đường thuỷ diễn ra thông suốt phục vụ cho du khách và người dân đảo Phú Quý.
1. Thương mại
1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ
Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ trong tháng đạt 17.921,7 tỷ đồng, tăng 1,09% so với tháng trước và tăng 25,06% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 10.698,9 tỷ đồng, tăng 1,46% so với tháng trước và tăng 21,62% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 3.842 tỷ đồng, tăng 0,74% so với tháng trước và tăng 36,48% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 3.380,8 tỷ đồng, tăng 0,34% so với tháng trước và tăng 24,37% so với cùng kỳ năm trước.
Quý III/2026 dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ đạt 53.095,2 tỷ đồng, tăng 6,26% so với quý trước và tăng 23,06% so với quý cùng kỳ năm trước. Trong đó: ước tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 31.657,2 tỷ đồng, tăng 3,52% so với quý trước và tăng 21,31% so với quý cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 11.438,8 tỷ đồng, tăng 12,16% so với quý trước và tăng 29,16% so với quý cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 9.999,2 tỷ đồng, tăng 8,83% so với quý trước và tăng 22,04% so với quý cùng kỳ năm trước.

Lũy kế 9 tháng đầu năm 2026 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ đạt 150.375 tỷ đồng, tăng 19,03% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 91.667,4 tỷ đồng, tăng 17,48% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành đạt 31.025,5 tỷ đồng, tăng 24,76% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác đạt 27.682,1 tỷ đồng, tăng 18,08% so với cùng kỳ năm trước.
1.2. Công tác quản lý thị trường
Công tác quản lý thị trường tiếp tục được tăng cường, tập trung kiểm tra, kiểm soát buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, kinh doanh xăng dầu và các mặt hàng thiết yếu. Trong tháng, lực lượng chức năng đã kiểm tra 64 vụ, phát hiện và xử lý 50 vụ, xử phạt hành chính 259,11 triệu đồng. Lũy kế từ ngày 15/12/2025 đến 14/9/2026, đã kiểm tra 1.077 vụ, phát hiện và xử lý 984 vụ, chiếm 91,4% số vụ kiểm tra, với tổng số tiền xử phạt 7,89 tỷ đồng, bình quân khoảng 8 triệu đồng/vụ xử lý. Kết quả cho thấy công tác kiểm tra, phát hiện và xử lý vi phạm được thực hiện thường xuyên, góp phần tăng cường kỷ cương và ổn định thị trường.
2. Giá cả
2.1. Giá tiêu dùng (CPI)
Thị trường hàng hóa và dịch vụ trên địa bàn tỉnh trong tháng 9/2026 cơ bản ổn định, nguồn cung các mặt hàng thiết yếu được bảo đảm. Tuy nhiên, việc giá xăng dầu tăng khá mạnh, cùng với nhu cầu tiêu dùng, đi lại và dịch vụ tăng trong dịp nghỉ Lễ Quốc khánh 02/9 và thời điểm bắt đầu năm học mới đã tạo áp lực tăng giá đối với một số nhóm hàng hóa, dịch vụ.
- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9/2026 tăng 0,41% so với tháng trước, tăng 1,75% so với tháng 12/2025 và tăng 3,79% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân quý III/2026, CPI tăng 3,96%; bình quân 9 tháng năm 2026 tăng 4,25% so với cùng kỳ năm trước. Diễn biến này cho thấy mặt bằng giá tiếp tục chịu áp lực tăng, song mức tăng trong tháng chủ yếu tập trung ở một số nhóm có biến động lớn, đặc biệt là giao thông.
So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 08 nhóm tăng giá và 03 nhóm giảm giá. Tác động tăng CPI rõ nhất đến từ nhóm giao thông tăng 3,80%, chủ yếu do giá nhiên liệu tăng 8,49%. Các nhóm còn lại tăng ở mức thấp hơn, gồm: thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,33%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,18%; giáo dục tăng 0,15%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,13%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,05%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,03%; thông tin và truyền thông tăng 0,01%.
Ở chiều ngược lại, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,16%, qua đó góp phần kiềm chế mức tăng CPI chung; may mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,06%; hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,01%.
Nguyên nhân chủ yếu làm CPI tăng trong tháng là giá xăng dầu được điều chỉnh qua các kỳ điều hành ngày 03, 10, 17 và 24/9/2026. Bình quân tháng, chỉ số giá nhiên liệu tăng 8,49%, trong đó giá xăng tăng 9,24% và dầu diesel tăng 4,52% so với tháng trước. Bên cạnh đó, bước vào năm học 2026-2027, một số cơ sở giáo dục ngoài công lập điều chỉnh học phí, làm giá dịch vụ giáo dục tăng 0,18%.
Yếu tố góp phần làm giảm áp lực tăng giá chủ yếu đến từ nhóm lương thực và rau xanh. Giá lương thực giảm 0,19% do lúa hè thu bước vào kỳ thu hoạch, nguồn cung tăng, kéo giá một số loại gạo giảm. Giá rau tươi, khô và chế biến giảm 1,79% do nhiều loại rau vào vụ thu hoạch, nguồn cung tại địa phương dồi dào; trong đó giá bắp cải giảm 5,37%, cà chua giảm 5,47% và rau muống giảm 1,49%.
- Bình quân quý III/2026, CPI tăng 3,96% so với cùng kỳ năm 2025. Áp lực tăng giá tập trung ở một số nhóm có quyền số và mức tăng tương đối lớn. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,77%, làm CPI chung tăng khoảng 1,07 điểm phần trăm, chủ yếu do giá thực phẩm và dịch vụ ăn uống ngoài gia đình tăng. Nhóm giao thông tăng 8,01%, làm CPI tăng khoảng 0,91 điểm phần trăm, chủ yếu do biến động giá nhiên liệu và chi phí vận tải. Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,88%, tác động làm CPI tăng khoảng 0,87 điểm phần trăm do giá điện, nước, chất đốt, vật liệu xây dựng và chi phí sửa chữa, bảo dưỡng nhà ở tăng.
Bên cạnh đó, giá các nhóm hàng hóa và dịch vụ khác; văn hóa, giải trí và du lịch; giáo dục; thiết bị và đồ dùng gia đình; đồ uống và thuốc lá; may mặc, mũ nón và giày dép đều tăng so với cùng kỳ. Ở chiều ngược lại, giá lương thực giảm 0,93%, góp phần hạn chế mức tăng CPI trong quý, chủ yếu do nguồn cung gạo và một số mặt hàng lương thực được bảo đảm trong thời kỳ thu hoạch.
- Tính chung 9 tháng năm 2026, CPI tăng 4,25% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng chủ yếu hình thành từ bốn nhóm hàng hóa, dịch vụ có tác động lớn là thực phẩm; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng; giao thông; giáo dục.
Trong đó, giá thực phẩm tăng 4,04%, làm CPI chung tăng khoảng 1,01 điểm phần trăm; đáng chú ý, giá thịt lợn tăng 4,14% và thịt gia cầm tăng 2,59%, do chi phí chăn nuôi còn ở mức cao, nguồn cung một số thời điểm hạn chế trong khi nhu cầu tiêu dùng tăng vào các dịp Lễ, Tết.
Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,65%, làm CPI chung tăng khoảng 1,01 điểm phần trăm, chủ yếu do giá vật liệu xây dựng, giá thuê nhà và chất đốt tăng; riêng giá gas tăng 20,80% do chịu tác động của giá gas thế giới.
Nhóm giao thông tăng 6,25%, làm CPI chung tăng khoảng 0,71 điểm phần trăm; trong đó giá nhiên liệu tăng 11,5% và dịch vụ giao thông công cộng tăng 26,9%, phản ánh tác động trực tiếp và lan tỏa của chi phí nhiên liệu đến hoạt động vận tải.
Nhóm giáo dục tăng 6,23%, làm CPI chung tăng khoảng 0,30 điểm phần trăm, chủ yếu do một số cơ sở giáo dục ngoài công lập điều chỉnh học phí theo năm học. Dịch vụ ăn uống ngoài gia đình tăng 4,78%, làm CPI tăng khoảng 0,40 điểm phần trăm, do chi phí nguyên liệu thực phẩm, gas, mặt bằng và nhân công tăng.
Ngoài ra, giá lương thực tăng 1,31%, làm CPI chung tăng khoảng 0,07 điểm phần trăm; các nhóm đồ uống và thuốc lá, may mặc, mũ nón và giày dép, thiết bị và đồ dùng gia đình lần lượt tăng 3,29%, 1,99% và 3,58%. Riêng nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,17%, góp phần làm CPI chung giảm khoảng 0,01 điểm phần trăm, chủ yếu do giá một số dòng điện thoại thế hệ cũ tiếp tục giảm.

2.2. Tình hình biến động giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản; giá sản xuất công nghiệp và giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất
Chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản quý III/2026 giảm 1,03% so với quý trước; tăng 8,76% so cùng kỳ năm trước. Trong 3 nhóm sản phẩm chính các nhóm hàng đều tăng giá so cùng kỳ năm trước: nhóm sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 8,78%; sản phẩm thủy sản khai thác, nuôi trồng tăng 4,93% và sản phẩm lâm nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 3,24%. Tính bình quân chỉ số giá 9 tháng năm 2026 tăng 8,04% so cùng kỳ năm trước. Trong 3 nhóm sản phẩm chính các nhóm hàng đều tăng giá so cùng kỳ năm trước: trong đó tăng cao nhất là nhóm sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 7,91%; tiếp đến là nhóm sản phẩm thủy sản khai thác, nuôi trồng tăng 6%; nhóm sản phẩm lâm nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng thấp 3,41%.
Chỉ số giá nguyên, nhiên, vật liệu đầu vào dùng cho sản xuất quý III/2026 giảm 4,68% so với quý trước; tăng 6,48% so với cùng kỳ năm trước; trong 7 nhóm sản phẩm chính có 6 nhóm hàng đều tăng giá so cùng kỳ năm trước: nhóm sản phẩm từ khai khoáng tăng 14,29%; nguyên vật liệu khác tăng 8,77%; điện, khí đốt, hơi nước và điều hoà không khí tăng 0,13%; nước tự nhiên khai thác tăng 0,61%; sản phẩm xây dựng tăng 5,47%; dịch vụ chuyên môn khoa học công nghệ tăng 3,94%; riêng nhóm sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, và thuỷ sản giảm 2,44%. Tính bình quân chỉ số giá 9 tháng năm 2026 tăng 8,28% so cùng kỳ năm trước; trong 7 nhóm sản phẩm chính các nhóm hàng đều tăng giá so cùng kỳ năm trước: Nhóm sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, và thuỷ sản tăng 2%; sản phẩm từ khai khoáng tăng 17,14%; nguyên vật liệu khác tăng 9,22%; điện, khí đốt, hơi nước và điều hoà không khí tăng 2,72%; nước tự nhiên khai thác tăng 0,61%; sản phẩm xây dựng tăng 5,41%; dịch vụ chuyên môn khoa học công nghệ tăng 5,08%.
Chỉ số giá sản xuất công nghiệp quý III/2026 giảm 2,95% so với quý trước; tăng 1,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nhóm sản phẩm khai khoáng tăng 21,74%; nhóm sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,18%; nhóm sản phẩm điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 3,25% so với cùng kỳ năm trước. Tính bình quân 9 tháng năm 2026, chỉ số giá sản xuất công nghiệp tăng 3,16% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: nhóm sản phẩm khai khoáng tăng 20,30%, chủ yếu do giá quặng kim loại và tinh quặng kim loại tăng 22,09% và nhóm sản phẩm khai khoáng khác tăng 19,45%; nhóm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,69%, trong đó một số nhóm tăng khá như chế biến thực phẩm tăng 8,38%, đồ uống tăng 9,66%, hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 9,46%, sản phẩm từ cao su và plastic tăng 31,67%; nhóm điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 0,25%. Nhìn chung, giá sản xuất công nghiệp 9 tháng tăng chủ yếu do biến động giá nguyên, nhiên vật liệu, nhiên liệu, chi phí vận chuyển, nhân công và tỷ giá; tuy nhiên, trong quý III/2026 áp lực tăng giá có xu hướng giảm khi nguồn cung nguyên liệu ổn định hơn, giá nhiên liệu hạ nhiệt và một số doanh nghiệp thực hiện giảm giá để kích cầu.
3. Hoạt động du lịch
Trong 9 tháng năm 2026, hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh diễn ra khá sôi động, gắn với nhiều sự kiện văn hóa, thể thao, lễ hội, vui chơi, giải trí và các chương trình xúc tiến, quảng bá, kích cầu du lịch. Nổi bật trong tháng là Lễ hội Trung thu năm 2026 được tổ chức tại 03 khu vực với chủ đề “Sắc màu Lâm Đồng - Chung một vầng trăng” và Lễ khai mạc Đại hội Thể dục thể thao tỉnh ngày 12/9/2026 với chủ đề “Lâm Đồng Hội tụ - Bứt phá - Vươn tầm”, thu hút hơn 2.000 người tham gia. Bên cạnh đó, trong các dịp lễ, tết và cuối tuần, các địa phương, doanh nghiệp du lịch đẩy mạnh các chương trình tour, khuyến mại, kích cầu, xúc tiến và quảng bá du lịch; chú trọng đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng dịch vụ và thu hút du khách. Thời tiết thuận lợi, giao thông được cải thiện cùng với việc tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch đã góp phần tạo sức hút đối với du khách, thúc đẩy hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh.
Lượt khách phục vụ trong tháng ước đạt 2.179,9 nghìn lượt, tăng 0,29% so tháng trước và tăng 30,96% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 80,9 nghìn lượt, tăng 3,59% so với tháng trước và tăng 8,1% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 4.000,5 nghìn ngày khách, tăng 0,6% so với tháng trước và tăng 32,27% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế trong tháng ước đạt 98,5 nghìn lượt khách, tăng 1,22% so với tháng trước và tăng 13,03% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 316,1 nghìn ngày khách, tăng 1,3% so với tháng trước và tăng 15,72% so với cùng kỳ năm trước.
Quý III/2026 lượt khách ước đạt 6.583,2 lượt khách, tăng 9,17% so với quý trước và tăng 23,27% so với quý cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 12.042,4 nghìn ngày khách, tăng 8,68% so với quý trước và tăng 24,97% so với quý cùng kỳ năm trước. Quý III/2026 lượt khách quốc tế ước đạt 291,1 nghìn lượt khách, giảm 5,21% so với quý trước và tăng 11,78% so với quý cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 934,1 nghìn ngày khách, giảm 4,32% so với quý trước và tăng 14,03% so với quý cùng kỳ năm trước.
Lũy kế 9 tháng năm 2026 lượt khách phục vụ đạt gần 18.470 nghìn lượt, tăng 19,17% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày đạt 662,2 nghìn lượt, tăng 11,06% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ đạt 34.241,7 nghìn ngày khách, tăng 21,01% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế lũy kế 9 tháng năm 2026 đạt 1.094,6 nghìn lượt, tăng 14,48% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách quốc tế đạt 3.493,2 nghìn ngày khách, tăng 17,64% so với cùng kỳ năm trước.
Doanh thu dịch vụ lưu trú trong tháng ước đạt 770,9 tỷ đồng, tăng 0,55% so với tháng trước và tăng 38,87% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 3.007,5 tỷ đồng, tăng 0,68% so với tháng trước và tăng 36% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 63,6 tỷ đồng, tăng 6,05% so với tháng trước và tăng 30,97% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2026 doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 2.305,2 tỷ đồng, tăng 15,75% so với quý trước và tăng 28,62% so với quý cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 8.950,7 tỷ đồng, tăng 11,34% so với quý trước và tăng 29,25% so với quý cùng kỳ năm trước; hoạt động lữ hành hỗ trợ du lịch ước đạt 182,9 tỷ đồng, tăng 8,82% so với quý trước và tăng 31,48% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2026 doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 6.289,1 tỷ đồng, tăng 24,32% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống đạt 24.229,3 tỷ đồng, tăng 24,63% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ lữ hành đạt 507,1 tỷ đồng, tăng 37,7% so với cùng kỳ năm trước.
Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 6.112,4 tỷ đồng, tăng 0,55% so với tháng trước và tăng 33,78% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2026 ước đạt 18.313,2 tỷ đồng, tăng 8,33% so với quý trước và tăng 25,66% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2026 doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 51.263,7 tỷ đồng, tăng 22,51% so với cùng kỳ năm trước.

4. Hoạt động dịch vụ khác
Tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác trong tháng ước đạt 3.380,8 tỷ đồng, tăng 0,34% so với tháng trước và tăng 24,37% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 844,9 tỷ đồng, tăng 7,72% so với tháng trước và tăng 11,53% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 193,8 tỷ đồng, tăng 1,47% so với tháng trước và tăng 20,58% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 189,8 tỷ đồng, tăng 5,91% so với tháng trước và tăng 25,76% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 267,9 tỷ đồng, tăng 2,68% so với tháng trước và tăng 12,97% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 1.539,7 tỷ đồng, giảm 4,56% so với tháng trước và tăng 37% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 344,7 tỷ đồng, tăng 1,25% so với tháng trước và tăng 19,65% so với cùng kỳ năm trước.
Quý III/2026 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 9.999,2 tỷ đồng, tăng 22,04% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 2.396,1 tỷ đồng, tăng 11,08% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 563,9 tỷ đồng, tăng 17,8% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo đạt 532,7 tỷ đồng, tăng 29,68% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội ước đạt 789,1 tỷ đồng, tăng 15,9% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 4.697,7 tỷ đồng, tăng 30,13% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ khác đạt 1.019,6 tỷ đồng, tăng 19,13% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ thông tin truyền thông ước đạt 192,9 tỷ đồng, tăng 0,62% so với quý trước và tăng 14% so với quý cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ chuyên môn, khoa học và công nghệ ước đạt 654,4 tỷ đồng, tăng 1,25% so với quý trước và tăng 7,59% so với quý cùng kỳ năm trước.
Lũy kế 9 tháng năm 2026 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 27.682,1 tỷ đồng, tăng 18,08% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 6.680,8 tỷ đồng, tăng 10,81% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 1.568,3 tỷ đồng, tăng 13,4% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo đạt 1.419,7 tỷ đồng, tăng 24% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội ước đạt 2.230 tỷ đồng, tăng 15,58% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 12.953,6 tỷ đồng, tăng 23,77% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ khác đạt 2.829,8 tỷ đồng, tăng 13,6% so với cùng kỳ năm trước.
5. Hoạt động vận tải
Hoạt động vận tải, kho bãi trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì mức tăng khá, nhờ nhu cầu vận chuyển hàng hóa và hành khách gia tăng cùng với sự phục hồi của hoạt động sản xuất, thương mại, dịch vụ và du lịch. Nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hóa phục vụ sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng tăng đã góp phần thúc đẩy khối lượng vận chuyển và doanh thu toàn ngành.
Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi tháng 9/2026 ước đạt 1.289,1 tỷ đồng, tăng 1,29% so với tháng trước và tăng 24,6% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý III/2026, doanh thu ước đạt 3.848,2 tỷ đồng, tăng 25,23%; lũy kế 9 tháng năm 2026 đạt 10.958,7 tỷ đồng, tăng 23,6% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này cho thấy hoạt động vận tải tiếp tục là một trong những lĩnh vực dịch vụ duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong 9 tháng đầu năm.
- Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong tháng ước đạt 2.995,2 nghìn HK, tăng 0,68% so với tháng trước và tăng 21,07% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 423.913,2 nghìn HK.Km, tăng 1,21% so với tháng trước và tăng 19,62% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2026 lượt khách vận chuyển ước đạt 8.980,2 nghìn HK, tăng 17,27% so với quý cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 1.274.750,2 nghìn HK.Km, tăng 16,1% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2026, lượt khách vận chuyển ước đạt 25.903,2 nghìn HK, tăng 17,01% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 3.712.952,6 nghìn HK.Km, tăng 17,04% so với cùng kỳ năm trước.
- Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong tháng ước đạt 2.455,6 nghìn tấn, tăng 1,01% so với tháng trước và tăng 25,3% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 358.989,5 nghìn tấn.Km, tăng 1,21% so với tháng trước và tăng 25,06% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2026 khối lượng vận chuyển ước đạt 7.227,3 nghìn tấn, tăng 27,79% so với quý cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 1.057.587,5 nghìn tấn.Km, tăng 27,66% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2026, khối lượng vận chuyển ước đạt 19.488 nghìn tấn, tăng 20,9% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 2.861.725,9 nghìn tấn.Km, tăng 21,21% so với cùng kỳ năm trước.
- Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.289,1 tỷ đồng, tăng 1,29% so với tháng trước và tăng 24,6% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2026 ước đạt 3.848,2 tỷ đồng, tăng 25,23% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2026 ước đạt 10.958,7 tỷ đồng, tăng 23,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu vận tải hành khách ước đạt 3.710,5 tỷ đồng, tăng 26,11% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 5.420,6 tỷ đồng, tăng 26,63% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.423 tỷ đồng, tăng 13,76% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 404,6 tỷ đồng, tăng 3,07% so với cùng kỳ năm trước.
- Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân trong tháng ước đạt 125 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 75 nghìn tấn (tro bay, cát, xỉ than, muối xá, quặng), nhập cảng 50 nghìn tấn (xi măng, cao lanh, máy móc, muối xá). Lũy kế 9 tháng năm 2026 ước đạt 2.446,8 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 2.251,2 nghìn tấn (muối xá, đá xá, tro bay, cát, xỉ than); nhập cảng 195,6 nghìn tấn (túi xi măng, cao lanh, bột đá, máy móc, muối xá).

V. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng
1. Thu ngân sách nhà nước
Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước đạt 2.395,5 tỷ đồng, tăng 5,97% so với cùng kỳ năm trước; ước quý III/2026 đạt 7.125 tỷ đồng, bằng 20,69% kế hoạch năm và tăng 43,17% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2026 ước đạt 25.913 tỷ đồng bằng 75,25% kế hoạch năm và tăng 12,87% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa ước đạt 23.846 tỷ đồng, bằng 72,98% kế hoạch năm và tăng 9,31%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước đạt 2.067 tỷ đồng, bằng 117,44% kế hoạch năm và tăng 80,97% so với cùng kỳ năm trước.

Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa trong 9 tháng năm 2026: Thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 3.150 tỷ đồng (bằng 82,82% kế hoạch năm và tăng 2,61% so với cùng kỳ năm trước); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 1.228 tỷ đồng (bằng 89% kế hoạch năm và tăng 14%); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 6.166 tỷ đồng (bằng 92,2% kế hoạch năm và tăng 29,89%); thuế thu nhập cá nhân ước đạt 2.293 tỷ đồng (bằng 83,99% kế hoạch năm và giảm 0,34%); các khoản thu về nhà, đất ước đạt 3.540 tỷ đồng (bằng 48% kế hoạch năm và tăng 2,97%); thu từ xổ số kiến thiết ước đạt 4.116 tỷ đồng (bằng 70,97% kế hoạch năm và tăng 11,02%).
2. Chi ngân sách nhà nước
Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước đạt 2.602,7 tỷ đồng, giảm 23,27% so với cùng kỳ năm trước; ước quý III/2026 đạt 12.219,3 tỷ đồng, lũy kế 9 tháng năm 2026 ước đạt 38.008 tỷ đồng (bằng 77,89% kế hoạch, tăng 19,5% so với cùng kỳ năm trước), trong đó: Chi đầu tư phát triển ước đạt 15.892,1 tỷ đồng, tăng 62,72% so với cùng kỳ năm trước; chi thường xuyên ước đạt 22.098,4 tỷ đồng, tăng 0,63% so với cùng kỳ năm trước.
3. Hoạt động tín dụng
Tính đến 31/8/2026, công tác huy động vốn của các TCTD (Tổ chức tín dụng) trên địa bàn tỉnh đạt 254.521 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 25.245 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 11,01%. Trong đó, huy động bằng đồng Việt Nam đạt 252.077 tỷ đồng (chiếm 99,04% tổng huy động vốn); huy động bằng ngoại tệ đạt 2.444 tỷ đồng, (chiếm 0,96% tổng huy động vốn).
Ước đến 30/9/2026, huy động vốn của các TCTD trên địa bàn toàn tỉnh đạt 257.500 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng khoảng 28.224 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 12,31%.
Hoạt động tín dụng: Đến 31/8/2026, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh đạt 378.619 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 7.635 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 2,06%. Trong đó, dư nợ cho vay bằng đồng Việt Nam đạt 376.366 tỷ đồng (chiếm 99,4% tổng dư nợ); dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 2.253 tỷ đồng (chiếm 0,6% tổng dư nợ). Dư nợ cho vay ngắn hạn là 267.033 tỷ đồng, dư nợ cho vay trung dài hạn là 111.586 tỷ đồng. Ước đến 30/9/2026, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn toàn tỉnh đạt 380.600 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng khoảng 9.616 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 2,59%.
Lãi suất tiền gửi bằng VND bình quân của NHTM trong tỉnh ở mức 0,18% - 0,48%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 4,35% - 4,75%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 7,44% -8,14%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng; 7,45% - 8,22%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng. Lãi suất tiền gửi USD của TCTD ở mức 0%/năm đối với tiền gửi của cá nhân và tổ chức.
Lãi suất cho vay bằng VND bình quân của NHTM đối với các khoản cho vay mới ở mức 9,19% - 11,76%/năm. Lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân bằng VND đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 4%/năm. Lãi suất cho vay bằng USD bình quân ở mức 4,07% - 4,76%/năm.
Dư nợ cho vay: Đến 31/8/2026, dư nợ cho vay ngành du lịch - dịch vụ - thương mại trên địa bàn tỉnh đạt 182.779 tỷ đồng, chiếm 48,28% tổng dư nợ tín dụng; ngành công nghiệp - xây dựng đạt 32.906 tỷ đồng, chiếm 8,69% tổng dư nợ tín dụng; ngành nông lâm thủy sản đạt 162.934 tỷ đồng, chiếm 43,03% tổng dư nợ tín dụng. Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dự nợ tín dụng là 1,67%.
VI. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội
1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao
1.1. Hoạt động văn hóa
- Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Tập trung thực hiện công tác tuyên truyền các nhiệm vụ chính trị và chào mừng các sự kiện kỷ niệm của địa phương, đất nước như: tuyên truyền cổ động mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ 2026; tuyên truyền chào mừng Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam; kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930-03/02/2026); tuyên truyền bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp, nhiệm kỳ 2026-2031; tuyên truyền, phát động Cuộc thi sáng tác Biểu trưng (Logo) tỉnh Lâm Đồng; kỷ niệm 51 năm Ngày giải phóng Đà Lạt (03/4/1975-03/4/2026), Ngày giải phóng Phan Thiết (19/4/1975-19/4/2026); Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương (10/3 âm lịch); Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2026); 140 năm Ngày Quốc tế Lao động (01/5/1886-01/5/2026); 72 năm Ngày chiến thắng Điện Biên Phủ (07/5/1954-07/5/2026); 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2026); 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2026); 81 năm ngày Cách mạng tháng Tám (19/8/1945-19/8/2026) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945-02/9/2026);… đồng thời tổ chức tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến người dân trên địa bàn tỉnh.
- Hoạt động văn hóa, văn nghệ: Đã tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ phục vụ các nhiệm vụ chính trị và chào mừng các sự kiện kỷ niệm của địa phương, đất nước như: chương trình bắn pháo hoa nổ tầm thấp đón giao thừa Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026; chương trình văn nghệ phục vụ cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp, nhiệm kỳ 2026-2031; các hoạt động văn nghệ kỷ niệm 140 năm Ngày Quốc tế Lao động (01/5/1886-01/5/2026); 72 năm Ngày chiến thắng Điện Biên Phủ (07/5/1954-07/5/2026); 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2026); 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2026); 81 năm ngày Cách mạng tháng Tám (19/8/1945-19/8/2026) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945-02/9/2026); chương trình văn nghệ phục vụ tháng cao điểm chào Mùa hè Du lịch năm 2026 với chủ đề “Lâm Đồng - Bản giao hưởng xanh”; chương trình âm nhạc đường phố phục vụ tháng cao điểm chào Mùa hè Du lịch năm 2026; chương trình văn nghệ phục vụ: Lễ hội Giỗ Tổ Hùng Vương năm 2026, Lễ hội Cầu ngư các vạn chài phường Phan Thiết năm 2026, Lễ hội Nghinh ông năm 2026, Lễ hội Trung thu năm 2026 tại 03 khu vực với chủ đề “Sắc màu Lâm Đồng - Chung một vầng trăng”…. Ngoài ra, đến nay đã tổ chức 92 suất biểu diễn phục vụ chính trị; thực hiện 02 vở kịch tuyên truyền; 06 đợt phim; 03 Tuần phim; 01 Chương trình Dạ hội Điện ảnh, 823 buổi chiếu phim và 117 buổi tuyên truyền phục vụ cơ sở.
- Hoạt động bảo tồn, bảo tàng:
+ Bảo tàng tỉnh: Đón 24.012 lượt khách, trong đó có 1.374 lượt khách quốc tế; lũy kế từ ngày 01/01 đến 12/9/2026 đã đón 263.516 lượt khách tham quan, trong đó có 18.397 lượt khách quốc tế; thực hiện 21 cuộc trưng bày, triển lãm chuyên đề; sưu tầm 290 hiện vật, hình ảnh, tư liệu phục vụ công tác trưng bày.
+ Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận: Tiếp đón 175 đoàn với 12.261 lượt khách (trong đó có 35 khách quốc tế); phục vụ 17 lễ viếng, báo công và 01 lễ rước đuốc Đại hội Thể dục Thể thao tỉnh Lâm Đồng lần thứ I năm 2026. Lũy kế từ ngày 01/01 đến 12/9/2026 đã tiếp đón 1.682 đoàn khách tham quan với 123.323 lượt khách (trong đó có 367 khách quốc tế); phục vụ: 189 lễ viếng, 10 báo công, 06 kết nạp Đoàn, 03 kết nạp Đảng, 03 lễ rước đuốc, 04 lễ tuyên dương và 27 sinh hoạt chuyên đề; tổ chức triển lãm 04 đợt ảnh tư liệu, ảnh nghệ thuật; phối hợp với các báo, đài thực hiện 12 phóng sự.
+ Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận trong kháng chiến chống Mỹ: Tiếp đón, phục vụ 05 đoàn với 1.809 lượt khách; lũy kế từ ngày 01/01 đến ngày 12/9/2026 đã đón 17.889 lượt khách đến thăm viếng, học tập, trải nghiệm. Ngoài ra đã tổ chức 02 triển lãm ảnh, sưu tầm 06 hiện vật phục vụ trưng bày và phối hợp tổ chức thành công Giải leo núi “Hành trình về Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận” lần thứ I.
- Hoạt động Thư viện: Cấp mới và gia hạn 150 thẻ (thiếu nhi 50 thẻ), phục vụ 611.495 lượt bạn đọc, luân chuyển 18.193 lượt tài liệu. Ngoài ra đã tổ chức tổ chức cuộc thi “Giới thiệu sách trực tuyến” lần thứ I năm 2026. Lũy kế từ 01/01 đến 07/9/2026 đã cấp mới và gia hạn 6.356 thẻ (thiếu nhi 4.596 thẻ), phục vụ 2.453.809 lượt bạn đọc, luân chuyển 493.550 lượt tài liệu, trưng bày 145.764 tài liệu phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương và độc giả.
1.2. Hoạt động thể thao
- Thể dục thể thao quần chúng: Tổ chức thành công Đại hội TDTT tỉnh Lâm Đồng với chủ đề: “Lâm Đồng Hội tụ - Bứt phá - Vươn tầm”, thu hút 47 đoàn với 3.109 vận động viên tham gia. Trong 9 tháng năm 2026, phong trào tập luyện TDTT quần chúng trên địa bàn tỉnh diễn ra sôi nổi với nhiều hình thức phong phú, đa dạng; nhiều sự kiện thể thao phong trào được tổ chức với quy mô lớn như: Chạy việt dã, Bơi lội, Cầu lông, Quần vợt, Golf, Đua xe đạp, Pickleball, Bóng chuyền bãi biển,... thu hút đông đảo người dân tham gia; bên cạnh đó, thể thao học đường được quan tâm, phương pháp giáo dục thể chất được đổi mới; hệ thống cơ sở vật chất thể thao cơ sở được cải tạo, nâng cấp và đầu tư xây dựng đã tạo điều kiện thuận lợi để người dân tham gia tập luyện, thi đấu và rèn luyện sức khỏe.
- Thể thao thành tích cao: Trong tháng, cử các đội tham gia thi đấu các giải quốc gia và quốc tế; kết quả đạt được 134 huy chương (43 HCV, 37 HCB, 54 HCĐ), trong đó có 30 huy chương quốc tế (19 HCV, 7 HCB, 4 HCĐ). Lũy kế từ ngày 01/1 đến ngày 12/9/2026 đã tham gia 93 giải thể thao quốc gia và quốc tế; kết quả đạt 701 huy chương (159 HCV, 179 HCB, 363 HCĐ), trong đó có 01 huy chương bạc Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X và 43 huy chương quốc tế (24 HCV, 9 HCB, 10 HCĐ).
2. Thông tin, báo chí, xuất bản
- Báo chí và truyền thông: Được triển khai chủ động, bám sát nhiệm vụ chính trị và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Đã thực hiện tốt công tác tuyên truyền các sự kiện lớn của tỉnh: tuyên truyền Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Lâm Đồng lần thứ I năm 2026; Lễ hội Trung thu; các hoạt động chuẩn bị cho Festival Hoa Đà Lạt lần thứ XI năm 2026 và mục tiêu tăng trưởng kinh tế của tỉnh; ngoài ra đã ban hành Quyết định quy định về quản lý đại lý Internet, điểm truy nhập Internet công cộng không cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử trên địa bàn tỉnh và phối hợp cung cấp thông tin theo yêu cầu của địa phương về các vụ việc trên không gian mạng. Từ đầu năm 2026 đến nay đã thực hiện đăng tải khoảng 7.400 tin, bài; tổ chức 09 cuộc giao ban báo chí, 04 cuộc họp báo, qua đó góp phần định hướng dư luận, tạo đồng thuận xã hội và phục vụ mục tiêu tăng trưởng “02 con số” năm 2026 của tỉnh Lâm Đồng.
- Thông tin cơ sở và thông tin đối ngoại: Được triển khai theo kế hoạch, bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương và địa phương. Tổ chức hướng dẫn các xã, phường, đặc khu triển khai đầu tư, mở rộng hệ thống truyền thanh cấp xã theo quy định của Thông tư 24/2025/TT-BVHTTDL. Ngoài ra đã xây dựng Quyết định của UBND tỉnh về ban hành Quy chế quản lý hoạt động thông tin đối ngoại trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng; triển khai Kế hoạch thông tin đối ngoại năm 2026 và Kế hoạch triển khai Chiến lược truyền thông quảng bá hình ảnh Việt Nam ra nước ngoài giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045.
- Xuất bản, in và phát hành: Thực hiện tốt hoạt động quản lý nhà nước về xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm trên địa bàn tỉnh. Trong 9 tháng năm 2026 đã cấp 32 giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh, 02 giấy phép tổ chức triển lãm, hội chợ xuất bản phẩm và 01 giấy xác nhận thay đổi thông tin đăng ký hoạt động in.
3. Giáo dục và đào tạo
Trong tháng tập trung nguồn lực để triển khai năm học 2026-2027. Tỉnh chủ động sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục, đưa các trường phổ thông nội trú liên cấp tại xã biên giới vào hoạt động, bảo đảm các điều kiện về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, sách giáo khoa phục vụ năm học mới. Lễ khai giảng năm học 2026-2027 được tổ chức trang trọng, vui tươi, an toàn vào sáng ngày 05/9/2026 tại các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh.
Thực hiện chủ trương của Trung ương về sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; kết quả, toàn tỉnh đã giảm mạnh số lượng cơ sở giáo dục công lập từ 1.453 trường (tính đến 01/7/2025) xuống còn 823 trường (tính đến 30/8/2026); tổng số cơ sở giáo dục giảm là 630 trường, tỷ lệ giảm là 43,36%. Hiện nay toàn tỉnh có 210 trường mầm non, 247 trường tiểu học, 112 trường tiểu học và trung học cơ sở, 149 trường trung học cơ sở, 27 trường trung học cơ sở và trung học phổ thông, 65 trường trung học phổ thông và 13 cơ sở giáo dục khác. Về công tác nhân sự, bên cạnh việc sắp sếp tinh gọn quy mô trường học, số lượng “Hiệu trưởng” các trường cũng đã giảm từ 1.385 người xuống còn 825 người; số lượng “Phó Hiệu trưởng” giảm từ 2.143 người xuống còn 1.696 người; số lượng kế toán, văn thư và thủ quỹ giảm từ 2.339 người xuống còn 1.659 người. Trong tổng số “Hiệu trưởng” và “Phó Hiệu trưởng” giảm đã bố trí chuyển làm giáo viên là 949 người; hiện nay đã và đang giải quyết nghỉ theo chế độ sau sắp xếp 578 người.
Giáo dục nghề nghiệp: Hiện nay toàn tỉnh có 06 trường cao đẳng nghề; 05 trường trung cấp, 30 trung tâm dạy nghề (trong đó: công lập 13 trung tâm); cơ sở dạy nghề khác có 17 cơ sở. Đào tạo nghề hệ cao đẳng cho 130 học viên, trung cấp nghề 1.350 học viên, sơ cấp nghề 4.700 học viên, đào tạo không chính quy 13.349 học viên.
Nhìn chung, công tác giáo dục và đào tạo cơ bản được triển khai đúng tiến độ, bảo đảm yêu cầu nhiệm vụ đề ra; công tác chỉ đạo, điều hành chủ động, kịp thời; các nhiệm vụ năm học mới được triển khai đồng bộ. Tuy nhiên, vẫn còn một số khó khăn về nguồn lực, cơ sở vật chất, đội ngũ và tổ chức thực hiện cần tiếp tục tập trung tháo gỡ để bảo đảm hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ năm 2026 và thực hiện hiệu quả nhiệm vụ năm học 2026-2027.
4. Y tế
Trong tháng tiếp tục tăng cường công tác giám sát, phát hiện và tích cực triển khai các biện pháp dự phòng, khoanh vùng, xử lý khi phát hiện các ca bệnh truyền nhiễm; thực hiện đánh giá tình hình dịch bệnh truyền nhiễm tại các địa phương có số mắc cao để triển khai các biện pháp phòng chống dịch và xử lý kịp thời các ổ dịch phát sinh; đồng thời chuẩn bị đầy đủ thuốc, hóa chất, vật tư phục vụ công tác phòng chống dịch và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh phục vụ người dân.
- Bệnh sốt xuất huyết: Trong tháng phát hiện 1.301 ca mắc sốt xuất huyết mới, tăng 163 ca so với tháng trước (1.138 ca) và giảm 263 ca so với cùng kỳ năm trước (1.564 ca). Lũy kế từ đầu năm đến ngày 31/8/2026, toàn tỉnh có 4.064 ca mắc, giảm 42 ca so với cùng kỳ năm trước (4.106 ca). Trong tháng đã phát hiện và xử lý 185 ổ dịch, lũy kế đến ngày 31/8/2026 đã phát hiện xử lý 546 ổ dịch.
- Bệnh sốt rét: Trong tháng phát hiện 2 ca mắc; lũy kế từ đầu năm đến ngày 31/8/2026, toàn tỉnh có 05 ca mắc bệnh sốt rét.
- Bệnh tay chân miệng: Trong tháng phát hiện 708 ca mắc, tăng 283 ca so với tháng trước và tăng 501 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 31/8/2026, toàn tỉnh có 3.889 ca mắc.
- Bệnh sởi: Trong tháng phát hiện 18 ca mắc, tăng 09 ca so với tháng trước và giảm 15 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 31/8/2026, toàn tỉnh có 110 ca mắc.
- Tiêm chủng mở rộng: Trong tháng đã tiêm chủng đầy đủ cho 3.771 trẻ dưới 1 tuổi; tiêm viêm gan B sơ sinh trước 24h sau sinh cho 3.652 trẻ; tiêm MR (phòng chống sởi và rubella) cho 3.698 trẻ; tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DPT) mũi 4 cho 3.576 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 1 cho 3.720 trẻ, mũi 2 cho 3.765 trẻ và mũi 3 cho 3.884 trẻ; ngoài ra đã tổ chức tiêm phòng uốn ván cho 3.675 phụ nữ có thai trên địa bàn tỉnh.
- Công tác phòng chống Phong: Duy trì tốt công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chí của Bộ Y tế. Trong tháng không có bệnh nhân phong mới. Toàn tỉnh còn quản lý 432 bệnh nhân; đang điều trị 04 bệnh nhân; đang giám sát 9 bệnh nhân; chăm sóc tàn tật cho 425 bệnh nhân; bệnh nhân hết quản lý là 03 người (03 người tử vong).
- Công tác phòng chống Lao: Chương trình chống lao tiếp tục được duy trì mục tiêu triển khai công tác chống lao tại 100% xã, phường, đặc khu. Trong tháng số bệnh nhân (BN) lao mới các thể thu nhận là 160 bệnh nhân, tỷ lệ BN lao mới các thể/dân số là 04 BN/100.000 dân; BN lao phổi có bằng chứng vi khuẩn học mới (AFB (+) và MTB) trong tháng là 03 BN/100.000 dân; bệnh nhân lao kháng thuốc trong tháng là 06 bệnh nhân.
- Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng phát hiện 20 bệnh nhân nhiễm HIV mới, không có bệnh nhân chuyển sang AIDS và có 10 trường hợp tử vong do AIDS. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 4.907 người mắc HIV, chuyển sang AIDS 1.798 người, tử vong 1.592 người.
- Công tác khám chữa bệnh: Trong tháng đã tổ chức khám bệnh cho 429.766 lượt bệnh nhân, số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 39.620 lượt người, tổng số ngày điều trị nội trú là 240.898 ngày, xét nghiệm cho 655.210 tiêu bản, chẩn đoán 149.804 hình ảnh và phẫu thuật 6.255 trường hợp. Ước 9 tháng năm 2026 đã tổ chức khám bệnh cho 4.024.182 lượt người; 322.728 lượt bệnh nhân điều trị nội trú với 1.984.872 ngày, số ngày điều trị nội trú trung bình/bệnh nhân 6,08 ngày; công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 83,9%; xét nghiệm cho 5.515.451 tiêu bản; chẩn đoán 1.265.455 hình ảnh và phẫu thuật cho 48.184 trường hợp.
- Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm: Trong tháng đã tổ chức kiểm tra tại 41 cơ sở thực phẩm, phát hiện 05 cơ sở vi phạm quy định về an toàn thực phẩm, đã xử phạt 47 triệu đồng. Trong tháng, trên địa bàn tỉnh không xảy ra ngộ độc thực phẩm. Lũy kế 9 tháng năm 2026 xảy ra 03 vụ ngộ độc thực phẩm làm 188 người mắc và 01 người tử vong.
5. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và người có công
5.1. Chính sách dân tộc
- Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ổn định; nhiều mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu của Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi đã đạt và vượt kế hoạch đề ra; công tác giảm nghèo, phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội tại các xã, thôn đặc biệt khó khăn có nhiều chuyển biến; nhiều dự án hỗ trợ sinh kế, giải quyết việc làm đã phát huy hiệu quả, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân; đời sống vật chất, tinh thần của người đồng bào DTTS từng bước được cải thiện.
- Bản sắc văn hóa dân tộc vùng đồng bào DTTS được duy trì và phát huy; chú trọng triển khai thực hiện các giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển các giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc. Tỷ lệ thôn có nhà sinh hoạt cộng đồng đạt 90%; 100% xã có sóng phát thanh, truyền hình, internet; nhiều chương trình bằng tiếng dân tộc đáp ứng nhu cầu thông tin vùng đồng bào DTTS. Tỷ lệ thôn có đội văn hóa, văn nghệ (câu lạc bộ) truyền thống hoạt động thường xuyên, có chất lượng đạt 48%.
- Hoạt động giáo dục tiếp tục được quan tâm, đầu tư. Hệ thống cơ sở vật chất, trường học, phòng học, thư viện, thiết bị dạy học, ký túc xá, nhà công vụ giáo viên từng bước được đầu tư; qua đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục vùng đồng bào DTTS. Tỷ lệ học sinh mẫu giáo 5 tuổi đến trường đạt 99,87%; tỷ lệ học sinh trong độ tuổi tiểu học đến trường đạt 97,3%; tỷ lệ học sinh trong độ tuổi trung học cơ sở đến trường đạt 96,97%; tỷ lệ học sinh trong độ tuổi trung học phổ thông đến trường đạt 70,08%; tỷ lệ người từ 15 tuổi trở lên đọc thông viết thạo đạt 90,3%. Chính sách hỗ trợ chi phí học tập cho học sinh, sinh viên DTTS theo Nghị quyết số số 43/2026/NQ-HĐND ngày 27/7/2026 2 của HĐND tỉnh được thực hiện đầy đủ, đúng quy định.
- Hệ thống y tế vùng đồng bào DTTS tiếp tục được quan tâm đầu tư nhằm từng bước nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe người dân. Công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu, khám chữa bệnh BHYT và phòng chống dịch bệnh dịch tại tuyến y tế cơ sở vùng sâu, vùng xa được triển khai chủ động. Đến nay, tỷ lệ đồng bào DTTS tham gia bảo hiểm y tế đạt 94,84%; tỷ lệ phụ nữ sinh con tại cơ sở y tế hoặc có sự hỗ trợ của nhân viên y tế đạt 71%; tỷ lệ phụ nữ mang thai được thăm khám định kỳ (ít nhất 4 lần trong thai kỳ) đạt 77%; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng thể nhẹ cân là 15,8%, đạt theo kế hoạch.
5.2. Chính sách tôn giáo
Hoạt động của các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường, ổn định, chấp hành đúng quy định của pháp luật.
- Phật giáo: Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) tỉnh Lâm Đồng tổ chức Đại hội Đại biểu Phật giáo tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 tại chùa Phật Ân, phường Phan Thiết, đăng ký bổ nhiệm chức việc Ban Trị sự GHPGVN tỉnh nhiệm kỳ 2026-2031; ban hành quyết định thành lập chùa Linh Quy Pháp Ấn tại xã Bảo Lâm 3 và chấp thuận chủ trương xây dựng 03 cơ sở Phật giáo trên địa bàn tỉnh.
- Công giáo: Giáo phận Ban Mê Thuột tổ chức các cuộc lễ Tĩnh huấn hiền mẫu, lễ khánh thành nhà thờ; lễ công bố quyết định thành lập giáo xứ Giáo xứ Xuân Tình, xã Đắk Sắk; thực hiện phong phẩm linh mục cho 08 phó tế; thuyên chuyển địa bàn hoạt động tôn giáo 12 linh mục; thuyên chuyển và đăng ký bổ nhiệm 10 linh mục làm quản xứ, phó xứ trên địa bàn tỉnh. Giáo phận Đà Lạt tổ chức các cuộc lễ (Lễ đặt đá xây dựng nhà thờ Giáo xứ Xà Lùng, xã Hoà Ninh; kỷ niệm 90 năm thành lập Giáo xứ Bảo Lộc; thánh lễ mừng Thánh Têrêsa Calcutta - Bổn mạng Ban Bác ái xã hội, tại Giáo xứ Ka La, xã Bảo Thuận và lễ mừng Thánh Monica - Bổn mạng Giới Hiền mẫu Giáo hạt Đà Lạt tại giáo xứ Chính Tòa, phường Xuân Hương - Đà Lạt). Tòa Giám mục Giáo phận Phan Thiết thuyên chuyển 29 linh mục và đăng ký bổ nhiệm 02 linh mục làm quản xứ 02 giáo xứ trong Giáo phận. Các giáo xứ, hội dòng, đan viện, tu đoàn, cộng đoàn tổ chức các hoạt động như: Dòng Phan Sinh Thừa Sai Đức Mẹ mời 02 người nước ngoài vào hoạt động tôn giáo tại Lâm Đồng; Cộng đoàn Don Bosco K’Long, xã Hiệp Thạnh mở 03 lớp bồi dưỡng người chuyên hoạt động tôn giáo.
- Tin lành: Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam) đề nghị thành lập 04 tổ chức tôn giáo trực thuộc (Chi hội Đạ Ty, xã Phú Sơn Lâm Hà; Chi hội Đạ Long 1, xã Đam Rông 4; Chi hội Dà Blu, xã Hiệp Thạnh; Chi hội Chi Rông, xã Đức Trọng) và tổ chức lễ thành lập 05 Chi hội. Ban Đại diện Tin Lành Việt Nam (miền Nam) tỉnh Lâm Đồng tổ chức Bồi linh cho giáo phẩm và tín hữu tại Nhà thờ Chi hội Tin Lành Đà Lạt và Nhà thờ Chi hội Tin Lành Bảo Lộc. Các tôn giáo khác trên địa bàn tỉnh hoạt động ổn định.
5.3. Chính sách người có công
Trong tháng đã giải quyết 285 hồ sơ về chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng và thân nhân người có công; thực hiện chi trả trợ cấp ưu đãi hằng tháng kịp thời, đầy đủ, đúng đối tượng theo quy định. Trong 9 tháng năm 2026 đã giải quyết 2.837 hồ sơ về chế độ chính sách cho người có công và chi trả trợ cấp hằng tháng không dùng tiền mặt cho 14.446/18.220 người với tổng kinh phí hơn 46,99 tỷ đồng.
Công tác chăm lo đời sống cho người có công cách mạng được thực hiện hiệu quả. Hiện nay, tỉnh Lâm Đồng có 18.226 đối tượng là người có công với cách mạng và thân nhân người có công với cách mạng đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng, với tổng kinh phí chi trả khoảng 62,0 tỷ đồng/tháng. Trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, tỉnh tổ chức thăm, tặng quà tết theo Quyết định số 01/QĐ-CTN ngày 05/01/2026 của Chủ tịch nước 27.201 suất với tổng số tiền hơn 8,3 tỷ đồng; thăm tặng quà theo Nghị quyết số 92/2025/NQ-HĐND ngày 30/12/2025 của HĐND tỉnh Lâm Đồng 65.234 suất với tổng kinh phí hơn 83,8 tỷ đồng; thăm tặng quà của Chủ tịch nước nhân dịp Kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh- Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2026) cho 25.833 người với tổng kinh phí 7,89 tỷ đồng; thăm tặng quà theo Nghị quyết số 92/2025/NQ-HĐND ngày 30/12/2025 của Hội đồng nhân dân tỉnh nhân dịp Kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2026) cho 28.765 người với tổng kinh phí hơn 40,80 tỷ đồng. Ngoài ra đã tổ chức 04 đợt điều dưỡng tập trung đối với người có công với cách mạng cho 425 lượt người; ban hành Quyết định điều dưỡng tại nhà đối với người có công với cách mạng và thân nhân liệt sĩ với 3.745 người, tổng kinh phí 9,4 tỷ đồng.
Chương trình hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát cho đối tượng là con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học: tính đến ngày 09/9/2026 đã hoàn thành xây mới 30 căn nhà, đang xây dựng 8 căn nhà, hoàn thành sửa chữa 45/45 căn nhà. Tổng số căn đã và đang xây dựng, sửa chữa là 83/83 căn với tổng 2.452 ngày công.
Hiện nay tỉnh tiếp tục phối hợp với Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh triển khai “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sỹ” do Ban Chỉ đạo 515 quốc gia phát động. Tính đến ngày 12/8/2026, tỉnh Lâm Đồng đã hoàn thành việc lấy mẫu tại 11 Nghĩa trang Liệt sĩ trên địa bàn tỉnh; tổng số mộ cần lấy mẫu 4.776 mộ, trong đó mộ lấy được mẫu 3.625 mộ, mộ không lấy được mẫu 1.151 mộ.
6. Hoạt động bảo hiểm
Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN được thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định. Tính đến ngày 31/8/2026, toàn tỉnh có 323.377 người tham gia BHXH, đạt 97,66% kế hoạch năm và tăng 10,56% so với cùng kỳ năm trước; 243.619 người tham gia BHTN, đạt 96,12% kế hoạch và tăng 8,78%; 3.146.012 người tham gia BHYT, đạt 98,21% kế hoạch và tăng 4,07% so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ bao phủ BHYT chung toàn tỉnh đạt 92,87% dân số.
Trong tháng 8/2026, đã giải quyết mới 10.654 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề cho 2.352 người (Trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 281 người; trợ cấp 1 lần cho 2.771 người; chế độ ốm đau cho 5.988 người; chế độ thai sản cho 1.293 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 321 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 2.139 người và hỗ trợ học nghề cho 213 người). Lũy kế đến ngày 31/8/2026, toàn tỉnh đã giải quyết mới 80.585 lượt người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả cho 15.675 người hưởng chế độ BHTN (Trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 1.562 người; trợ cấp 1 lần cho 19.330 người; chế độ ốm đau cho 46.646 người; chế độ thai sản cho 10.279 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 2.768 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 14.702 người và hỗ trợ học nghề cho 973 người).
7. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/8 - 14/9/2026)
Trong tháng xảy ra 62 vụ tai nạn giao thông, tăng 13 vụ so với tháng trước và giảm 38 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết là 37 người, tăng 8 người so với tháng trước và giảm 12 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 44 người, tăng 4 người so với tháng trước và giảm 32 người so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 514 vụ (trong đó có 05 vụ đường sắt), giảm 153 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết 328 người, giảm 12 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 342 người, giảm 175 người so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do người điều khiển phương tiện chạy quá tốc độ, thiếu quan sát, đi không đúng phần đường, lấn làn, qua đường bất cẩn, sử dụng rượu bia và vượt xe sai quy định.
8. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường
- Thiên tai: (từ ngày 25/8 đến 24/9/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 04 vụ thiên tai do mưa lớn gây ngập; thiên tai đã làm 73 căn nhà bị hư hại, 1.897 căn nhà bị ngập, 444 con gia cầm bị cuốn trôi, 2.891 ha cây trồng các loại bị ngập, 03 ha lúa và 12 ha hoa màu bị thiệt hại, 15 cầu dân sinh bị hư hỏng, 46 tuyến đường giao thông bị hư hỏng, 23 điểm sạt lở taluy; ước tổng giá trị thiệt hại khoảng 38,47 tỷ đồng. Lũy kế 9 tháng đầu năm 2026, trên địa bàn tỉnh xảy ra 24 vụ thiên tai làm 01 người chết, 04 người bị thương; 08 nhà bị sập hoàn toàn, 121 nhà bị hư hại, 296 căn nhà hư hỏng nhẹ, 2.009 căn nhà bị ngập, 213 hộ được di dời; có 13,6 ha lúa sạ bị hỏng, 301 ha lúa bị ảnh hưởng nhẹ, 12,5 ha rau màu bị thiệt hại nặng, 69,6 ha cây lâu năm bị ảnh hưởng, 4.131 ha cây trồng các loại bị ngã đổ, ngập úng; 14 con gia súc bị cuốn trôi, khoảng 70.444 con gia cầm bị chết, cuốn trôi; 14,1 ha nhà kính, nhà lưới bị hư hỏng; 03 tàu cá bị chìm; đổ, gãy 18 cột điện; 42 điểm sạt bị lở taluy; 50 tuyến đường bị hư hỏng, ngập lụt; 24 cầu cống bị sạt lở và hư hỏng nhiều công trình, tài sản khác; ước tổng giá trị thiệt hại 76,47 tỷ đồng.
- Cháy nổ: Trong tháng (từ ngày 16/8-15/9/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 07 vụ cháy nổ, tăng 03 vụ so với tháng trước và tăng 04 vụ so với cùng kỳ năm trước; ước thiệt hại 2.801 triệu đồng. Lũy kế 9 tháng năm 2026 toàn tỉnh xảy ra 51 vụ cháy nổ, tăng 13 vụ so với cùng kỳ năm trước, làm 02 người chết và 02 người bị thương; ước tổng giá trị thiệt hại 8.979,4 triệu đồng.
- Vi phạm môi trường: Trong tháng xảy ra 02 vụ, đã xử phạt 30 triệu đồng. Lũy kế 9 tháng năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 10 vụ vi phạm, đã xử phạt 1.026,5 triệu đồng (9 tháng năm 2025 xảy ra 18 vụ vi phạm, xử phạt 3.278 triệu đồng).
* Đánh giá chung
Trong 9 tháng năm 2026, kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. GRDP ước tăng 8,51% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,9%; công nghiệp - xây dựng tăng 10,64%; dịch vụ tăng 9,49%.
Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản cơ bản ổn định, nhiều sản phẩm chủ lực tăng khá; sản lượng lương thực tăng 3,04%, chè tăng 13,07%, sản lượng thịt hơi tăng 10,34%, sữa bò tăng 24,3%. Sản xuất công nghiệp tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 12,02%, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 19,42%. Hoạt động thương mại, dịch vụ và du lịch diễn ra sôi động, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng 19,03%, số khách du lịch tăng 19,17%, doanh thu du lịch tăng 22,51%. Thu ngân sách nhà nước đạt 26.315,8 tỷ đồng, bằng 76,42% dự toán năm và tăng 14,63% so với cùng kỳ.
Hoạt động đầu tư phát triển tiếp tục được quan tâm và có chuyển biến tích cực. Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội đạt 84.104,8 tỷ đồng, tăng 12,09% so với cùng kỳ; vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý đạt 9.624,4 tỷ đồng, tăng 18,30%. Tuy nhiên, tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư vẫn cần được đẩy nhanh trong những tháng cuối năm; một số lĩnh vực sản xuất công nghiệp, thương mại và du lịch còn gặp khó khăn, cần tiếp tục có giải pháp hỗ trợ, tháo gỡ.
Các lĩnh vực văn hóa - xã hội tiếp tục được bảo đảm, công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân được quan tâm, 100% xã, phường đạt chuẩn quốc gia về y tế. Công tác an sinh xã hội, lao động, việc làm và các chính sách đối với người dân tiếp tục được triển khai. Bên cạnh đó, thiên tai, cháy nổ và một số vấn đề về môi trường vẫn còn diễn biến đáng lưu ý, cần tiếp tục chủ động phòng ngừa và tăng cường công tác quản lý, xử lý.
Nhìn chung, kinh tế - xã hội 9 tháng năm 2026 của tỉnh Lâm Đồng tiếp tục phát triển theo hướng tích cực, các khu vực kinh tế duy trì tăng trưởng; trong đó công nghiệp - xây dựng, thương mại - dịch vụ và du lịch tiếp tục là những động lực quan trọng của tăng trưởng. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản cơ bản ổn định; thu ngân sách đạt kết quả khá; các lĩnh vực văn hóa - xã hội, y tế, bảo hiểm và an sinh xã hội được bảo đảm. Bên cạnh đó, tiến độ thực hiện đầu tư và giải ngân vốn còn chậm, một số hoạt động sản xuất kinh doanh còn gặp khó khăn. Trong quý IV/2026, cần tiếp tục tập trung thúc đẩy sản xuất, kinh doanh; đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư; hỗ trợ doanh nghiệp, thúc đẩy tiêu dùng, thương mại, dịch vụ và du lịch; tăng cường quản lý thu ngân sách, đồng thời bảo đảm an sinh xã hội, chăm sóc sức khỏe nhân dân và giữ vững an ninh, trật tự, phấn đấu hoàn thành cao nhất các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2026.
THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG
.JPG)
.JPG)
.JPG)
.JPG)
.JPG)
Kèm File: So lieu KTXH thang 9 nam 2026.pdf
Dự án Công ty TNHH Etoile Du Matin của Công ty TNHH Semo Vina (vốn 0,20 triệu USD, thuê lại 0,30 ha nhà xưởng) tại KCN Lộc Sơn. Nhà máy sản xuất trang phục lót xuất khẩu Quadrille Tân Đức của Công ty TNHH Quadrille Việt Nam, vốn đầu tư 2,50 triệu USD, diện tích 1,50 ha. Dự án nhà máy sản xuất sản phẩm hạt Mellow Nut Tân Đức, vốn đầu tư 5 triệu USD, diện tích 2 ha tại KCN Tân Đức. Nhà máy sản xuất hàng may mặc Bảo Lộc Bảo Lợi Việt Nam của Công ty TNHH May mặc Bảo Lộc Bảo Lợi Việt Nam, vốn đầu tư 26 tỷ đồng, diện tích 0,31 ha tại Khu công nghiệp Lộc Sơn. Kho Transimex Phú Hội của Công ty Cổ phần Transimex Logistics, vốn đầu tư 98,658 tỷ đồng, diện tích 1,29 ha tại Khu công nghiệp Phú Hội. Nhà máy sản xuất ống nhựa của Công ty TNHH MTV Nhựa Stroman Lâm Đồng, vốn đầu tư 40 tỷ đồng, diện tích 1,39 ha tại Khu công nghiệp Tâm Thắng. Nhà máy sản xuất giấy Trường Phát Tâm của Công ty TNHH Trường Phát Tâm, vốn đầu tư 14 tỷ đồng, diện tích 1,09 ha tại Khu công nghiệp Phú Hội. Nhà máy chế biến nông sản của Công ty Cổ phần Quốc tế Thiên Hà, vốn đầu tư 80 tỷ đồng, diện tích thuê lại 1,10 ha tại Khu công nghiệp Lộc Sơn. Nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng và cho thuê nhà xưởng, kho Trung Tây Nguyên của Công ty TNHH Trung Tây Nguyên, vốn đầu tư 32,77 tỷ đồng, diện tích thuê đất 0,95 ha tại Khu công nghiệp Phú Hội. Nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi và thủy sản của Công ty TNHH Thiên Trường Group, vốn đầu tư 120 tỷ đồng, diện tích thuê đất 1,29 ha tại KCN Lộc Sơn. Nhà máy sản xuất bê tông thương phẩm và vật liệu xây dựng của Công ty cổ phần xây dựng Gia Hiệp Phát, vốn đầu tư 15 tỷ đồng, diện tích 4,33 ha tại KCN Phú Hội. Nhà máy sản xuất rượu công nghiệp của Công ty TNHH MTV Phát triển Đại Bình, vốn đầu tư 40 tỷ đồng, diện tích 1,94 ha tại KCN Lộc Sơn. Nhà máy Lô cao su Phan Thiết của Công ty TNHH Hàn Việt Lô cao su Phan Thiết, vốn đầu tư 60 tỷ đồng, diện tích 5 ha tại KCN Hàm Kiệm 1. Nhà máy chế biến tơ lụa của Công ty cổ phần Tơ lụa Hà Bảo, vốn đầu tư 43,90 tỷ đồng, diện tích 0,56 ha tại KCN Lộc Sơn. Nhà máy sản xuất nhựa Đồng Tâm của Công ty TNHH MTV Sản xuất Thương mại nhựa Đồng Tâm, vốn đầu tư 8 tỷ đồng, diện tích 0,28 ha tại KCN Hàm Kiệm II. Nhà xưởng cho thuê giai đoạn 1 của Công ty cổ phần Sonadezi Bình Thuận, vốn đầu tư 156 tỷ đồng, diện tích 4,26 ha tại KCN Tân Đức. Nhà máy rang - xay chế biến Cà phê Quốc Lộc của Công ty TNHH Quốc Lộc - Đà Lạt tự nhiên, vốn đầu tư 80 tỷ đồng, diện tích 0,38 ha tại KCN Phú Hội.
TIN TỨC CÙNG LOẠI KHÁC:
Trang:
/